Chủ Nhật, 28 tháng 9, 2014

KINH NGHIỆM KHỞI NGHIỆP THÀNH CÔNG CỦA MỘT GIÁO VIÊN


KINH NGHIỆM KHỞI NGHIỆP THÀNH CÔNG CỦA MỘT GIÁO VIÊN

Bố tôi bảo:“Thiên hạ người ta học kinh tế đàng hoàng, kinh nghiệm đầy mình mà làm ăn còn “chết dở” nữa là cái mã mày”. Cái “mã” tôi ngày đó, bảy năm trước, là một cô giáo dạy văn THPT, mới ra trường 2 năm. Kiến thức kinh doanh, cả lý thuyết lẫn thực hành, tôi chả có lấy một dúm nào.

Nhưng anh chồng lại bảo: “Em cứ làm đi, buôn bán gì cũng được. Thất bại cũng tốt. Chỉ cần em dám làm. Nếu lỗ ít thì coi như mình đi du lịch hết. Nếu lỗ nhiều thì coi như mình bị ung thư rồi chữa khỏi, bao nhiêu tiền cũng còn rẻ chán!”. Chúng tôi chỉ có một tí vốn liếng, đúng là tôi sợ thua mất tiền nên chưa dám quyết sách gì.


Anh còn bảo: “Em thích kinh doanh, nghĩ ra bao nhiêu ý tưởng mà chẳng dám làm thì cũng coi như không, cái gì cũng phải có khởi đầu thì mới có phát triển. Đừng nghe bố mẹ ngăn cản, suy nghĩ mỗi thời mỗi khác”. Quả thật, bố mẹ hai bên kịch liệt phản đối mọi ý tưởng buôn bán, kinh doanh của tôi. Các cụ muốn “ít nhất phải có một đứa ổn định trong nhà nước”. Bởi chồng tôi khi đó đã cổ phần với bạn bè một công ty phần mềm. Anh chỉ muốn tôi làm việc mà mình đam mê thực sự, đó là kinh doanh, mà tôi thì vẫn còn “lăn tăn” do sợ “mất lòng” các cụ. Thậm chí anh còn xúi tôi chơi số đề cho “gan to thêm vài lạng”, không cần biết thua hay thắng, chỉ để tăng sự mạnh dạn, dám “đầu tư” một cái gì đó.

Rồi thì tôi cũng quyết định mà không cần “oánh” con đề nào cả.

“Quả” đầu tiên tôi mua đất (bằng tiền của vợ chồng ông anh trai). Thất bại thê thảm, do tin cậy người giới thiệu, mua xong mới ‘vỡ nhẽ” không làm được sổ đỏ. Thế là “toi” một đống tiền, phát ngượng với cả nhà. Và bố mẹ càng phản đối mạnh hơn. Nhưng tôi thì khác, tôi bắt đầu quyết chí “phục thù”. Tôi lặng lẽ trang bị thật tốt kỹ năng học Văn - Tiếng Việt cho học sinh của mình. Chờ các em thi xong, nghỉ hè, tôi cũng nghỉ dạy luôn. Cái văn bằng cao học cũng dở dang từ đó…

“Quả” thứ hai tôi giấu biệt các cụ, mở một cửa hàng, lần này tôi thành công. Cửa hàng của tôi hiện nay đã được 6 năm, có thương hiệu trên thị trường, có uy tín trong cùng lĩnh vực. Tôi có những sản phẩm “độc chiêu” thiết kế riêng được chị em phụ nữ rất hài lòng, doanh thu tốt cho dù chỉ nằm trên một con phố nhỏ. Tôi luôn suy nghĩ để nâng cao chất lượng, mẫu mã các mặt hàng. Cả về cách thức bán hàng và việc quản lý nữa (để còn yên tâm giao phó cho nhân viên). Làm tốt nhất mọi việc để có được một thành công không phải là điều dễ dàng và nhàn hạ. Nếu không say mê, không yêu nghề thì sẽ nhanh “oải” lắm ! Khó mà sáng tạo được, càng khó mà vượt lên những cạnh tranh để có “bản sắc” riêng của mình.

“Quả” thứ ba là thấy có gian hàng vị trí đẹp, tiềm năng tốt. Tôi thuê luôn, mở một cửa hàng tự chọn. Diện tích không hoành tráng nhưng bày biện đẹp và đầy ắp các mặt hàng, mọi người vẫn gọi đùa là “siêu thị mini”. Tôi cũng rất thành công. Hàng tiêu dùng “ăn thua” nhau ở vốn dày, kho rộng và đủ mặt hàng, bán rẻ, phục vụ nhanh. Tiền lãi tính theo % thì không nhiều nhưng trên một số tiền khá lớn nên cũng không ít. Hơn nữa thu nhập rất ổn định và đều như “vắt chanh” hàng ngày, hàng tháng. Chỉ có điều kinh doanh cửa hàng này mất nhiều thời gian, từ sáng sớm đến 10h tối, khó mà giao phó cho nhân viên được. Cách đây 6 tháng, dù rất tiếc, tôi đành phải nghỉ vì bận bắt tay vào ý tưởng mới. Tính ra tôi cũng có thêm một số tiền giắt lưng, cùng với những hiểu biết và kinh nghiệm nữa. Tôi học được cách thức kinh doanh của nhiều người, nhiều hãng (từ chính cái việc họ bán hàng cho tôi).

Việc buôn bán làm tôi cảm thấy rất vui sướng, tôi say mê làm việc mà không mệt mỏi. Mẹ tôi bảo: “mày đúng là bị Giời đày, ngồi yên một phút cũng không chịu nổi”. Có lẽ thế thật, và ông Giời còn gắn thêm cho tôi một cái mặt rất “dày” nữa thì phải. Nhiều người vẫn đánh giá bán hàng là việc làm thấp kém, không dành cho người có học. Đối với họ một công việc “sang” phải có cái “mác” thật đẹp. Hoặc có buôn bán thì cũng là “cái gì” to tát, hoành tráng, chứ không phải là đồ ăn, đồ uống, đồ dùng như cái “siêu thị mini” này. Kệ họ, tôi không hề thấy xấu hổ, ngượng ngùng hay mặc cảm một tí nào hết. Nếu được lựa chọn lại tôi vẫn theo con đường ấy, chỉ có điều là sớm hơn mà thôi.

Thực ra trên bề mặt trái đất này có mấy công ty (dù lớn hay nhỏ) mà không bán hàng chứ ? Không bán sản phẩm thì bán dịch vụ, không bán vật chất thì bán tinh thần. Từ ông “Bin Gết” đến bà “Bin Gà” (tức bà Bin bán gà ở chợ Cóc gần nhà tôi) đều kiếm tiền từ bán hàng cả đấy thôi. Tôi cũng vậy, tôi tự tin và thấy việc ấy rất phù hợp với mình. Tôi muốn trở thành một người bán hàng thành công. Những sáng tạo liên tục trong kinh doanh giúp tôi luôn giữ được khách hàng cũ và tăng thêm khách mới. Được khách hàng tin cậy và yêu mến như một người bạn tốt là điều tôi vui sướng nhất, còn hơn cả tiền bạc.

“Quả” thứ tư của tôi bắt đầu cách đây chưa lâu. Ý tưởng này được nảy sinh từ thực tế, khi tôi quyết định bán một ngôi nhà trong ngõ để thêm tiền mua ra mặt phố. Nhận thấy những bức xúc chung của xã hội, sẵn nhà “trồng” được, tôi lập một trang web chỉ đăng quảng cáo nhà đất có hình ảnh thật và đích thực chủ nhà “xịn”. Số lượng ảnh, video không hạn chế, miễn sao để người xem có được nhiều thông tin nhất (chủ nhà cũng đỡ mất công tiếp khách vào xem rồi chẳng được việc gì). Mọi thông tin đều công khai minh bạch mà người truy cập không bao giờ mất phí. Còn chủ nhà (tức người cần quảng cáo) sau này tôi sẽ thu một khoản duy nhất là 200 ngàn (trọn gói mọi việc từ đi chụp ảnh, quay video rồi đăng quảng cáo cho đến khi họ hoàn tất mọi việc). Hiện giờ thì tôi miễn phí hoàn toàn. Tôi muốn đem lại một công cụ hữu dụng thực sự cho cộng đồng, khi ai ai cũng biết đến thì tôi mới thu tiền cũng chưa muộn.

Tôi rất tự tin vì trang web của tôi được xã hội đón nhận nhiệt tình, khách hàng nhân lên mỗi ngày. Quan điểm kinh doanh của tôi rất rõ ràng: người dùng có lợi, xã hội có ích, thì mình sẽ có công.

Vợ chồng tôi thường bàn bạc mọi vấn đề với nhau, cho dù mỗi người một việc. Anh ấy giúp tôi tăng cường ý chí, quyết tâm và mạnh dạn hơn. Còn tôi “trả công” lại bằng những ý tưởng sáng tạo mới và triển khai đưa nó vào thực tế. Khi bắt tay vào kế hoạch nào cũng vậy, mọi vấn đề lớn nhỏ tôi đều làm ở mức độ tốt nhất có thể (không bỏ qua và xem nhẹ bất cứ một cái gì).

Sau bảy năm cắp tráp học hỏi trên thương trường, tôi thấy rằng: tiền có thể vay, nhân công (các chuyên môn) có thể thuê nhưng “đầu óc” và đam mê thì phải là của mình. Có như thế mới đủ trí tuệ, nghị lực, quyết đoán và nhiệt huyết để vượt qua những khó khăn. Còn việc mình làm không đúng ngành học cũng chẳng ảnh hưởng gì lắm. Các đồng nghiệp cũ vẫn gọi tôi là kẻ “mất dạy” (tức là mất nghề dạy học). Còn đồng nghiệp mới trong lĩnh vực kinh doanh thì gọi tôi là kẻ “cướp nghề”. Thế nào tôi cũng vui.

Tôi còn thấy xã hội hiện nay có cực nhiều cơ hội dành cho những người say mê lập nghiệp. Bao nhiêu mặt hàng, bao nhiêu sản phẩm, dịch vụ là bấy nhiêu cơ hội chứ ở đâu xa. Từ tăm xỉa răng, giấy lau miệng hay cửu vạn, đồng nát… lĩnh vực nào cũng có đại gia “mọc” lên. Không nhất thiết phải chờ đợi một ý tưởng mới chưa ai làm bao giờ. Chúng ta có thể dùng chính những cái cũ còn nhiều bất cập để mở ra một hướng đi mới, phù hợp với công cụ mới, đem lại hiệu quả cao hơn cho người sử dụng. Có sản phẩm tốt, dịch vụ tốt là có đường đi đến thành công rồi.

Trên đây là những bộc bạch “gan ruột” của tôi nhân đọc bài “học xong đại học em sẽ làm gì” của Lê Huỳnh Viết Phong. Tôi thấy em cũng giống như bản thân mình ngày trước. Mong rằng em sẽ có quyết định đúng để nếu thất bại cũng không hối hận.

Chia sẻ bởi
CSKH WLike 0916183300 - 0984236411
Thiết kế website bởi Wlike.vn

Chuyển hệ thống giáo dục cứng nhắc sang giáo dục mở

Chuyển hệ thống giáo dục cứng nhắc sang giáo dục mở


Quan điểm chỉ đạo đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo là chuyển hệ thống giáo dục cứng nhắc, thiếu liên thông sang hệ thống giáo dục mở; hình thành cơ chế học tập suốt đời gắn với xây dựng xã hội học tập...

Chiều ngày 19/9, Thường trực Ban soạn thảo Đề án - Bộ GD-ĐT đã tổ chức gặp mặt báo chí để thông báo việc hoàn thành sửa đổi dự thảo Đề án “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”.

So với bản dự thảo trình Hội nghị Trung ương 6 (khóa XI), dự thảo lần này đã chỉnh sửa, bổ sung và làm sáng tỏ nhiều nội dung, thẳng thắn, đúng mức hơn trong đánh giá thực trạng GD-ĐT Việt Nam; quan niệm và các quan điểm chỉ đạo đổi mới được trình bày rõ hơn và được cụ thể hóa trong mục tiêu, các nhiệm vụ và 9 giải pháp.

Chấn chỉnh những lệch lạc

Dự thảo đã nêu rõ 6 hạn chế, yếu kém của giáo dục - đào tạo hiện nay là chất lượng giáo dục còn thấp, còn nặng bệnh thành tích, chương trình giáo dục còn coi nhẹ thực hành, vận dụng kiến thức, hệ thống giáo dục còn cứng nhắc, thiếu tính liên thông; quản lý giáo dục và đào tạo còn nhiều yếu kém, đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục còn nhiều bất cập; nhiều chính sách và cơ chế tài chính lạc hậu… Nguyên nhân chính là do chưa nhận thức sâu sắc và chậm đổi mới tư duy về phát triển giáo dục trong cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Tư tưởng và thói quen bao cấp trong giáo dục còn nặng nề. Bên cạnh đó, yếu kém trong công tác quản lý, chỉ đạo của ngành giáo dục…

Thứ trưởng Bộ GD-ĐT Nguyễn Vinh Hiển, thường trực Ban soạn thảo đề án cho biết: "Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục là đổi mới những vấn đề lớn, cốt lõi, cấp thiết, từ tư duy, quan điểm đến mục tiêu, hệ thống, chương trình giáo dục (nội dung, phương pháp, thi, kiểm tra, đánh giá), các chính sách, cơ chế và các điều kiện bảo đảm chất lượng giáo dục. Đổi mới ở tất cả các cấp học và trình độ đào tạo, ở cả Trung ương và địa phương, ở mối quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội.

“Đổi mới căn bản và toàn diện không có nghĩa là làm lại tất cả, từ đầu mà cần vừa củng cố, phát huy các thành tựu và điển hình đổi mới, vừa kiên quyết chấn chỉnh những lệch lạc, những việc làm trái quy luật, phát triển những nhân tố tích cực mới” - Thứ trưởng Hiển cho hay.

                 Sẽ tăng cường tích hợp trong nội bộ môn học ở bậc tiểu học.

Chuyển sang hệ thống giáo dục mở

Quan điểm chỉ đạo đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo trong hoàn cảnh hiện nay, theo ông Bùi Mạnh Nhị - thành viên Ban soạn thảo, đổi mới, để tiến hành thành công đổi mới, cần coi Giáo dục là một nhân tố giữ vai trò quyết định thực hiện thành công mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu chú trọng trang bị kiến thức (nâng cao dân trí) sang tập trung phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học (năng lực công dân). Chuyển phát triển giáo dục chủ yếu theo mục tiêu số lượng sang phát triển theo mục tiêu vừa nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục, vừa đáp ứng yêu cầu số lượng theo nhu cầu nhân lực của xã hội. Phát triển giáo dục phù hợp với cơ chế thị trường, bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa…

Đặc biệt, chuyển hệ thống giáo dục cứng nhắc, thiếu liên thông sang hệ thống giáo dục mở; hình thành cơ chế học tập suốt đời gắn với xây dựng xã hội học tập; thực hiện xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế.

Ông Nhị cho rằng: “Hệ thống giáo dục mở là hệ thống giáo dục linh hoạt, liên thông giữa các yếu tố (nội dung, chương trình, phương pháp, phương thức, thời gian, không gian, chủ thể giáo dục…) của hệ thống và liên thông với môi trường bên ngoài hệ thống, bảo đảm tính sáng tạo cho việc xây dựng, tổ chức các nội dung, hình thức giáo dục. Tạo cơ hội tiếp cận giáo dục cho mọi người; tận dụng các nguồn lực cho giáo dục và bảo đảm tính hiệu quả, phát triển bền vững của hệ thống”.

Dạy học phân hóa

Đề xuất phương án tích hợp và phân hóa trong chương trình giáo dục phổ thông của Việt Nam sau năm 2015, Thứ trưởng Nguyễn Vinh Hiển cho biết: “Dạy học tích hợp là tổ chức, hướng dẫn để học sinh biết huy động tổng hợp kiến thức, kỹ năng thuộc nhiều lĩnh vực nhằm giải quyết các nhiệm vụ trong học tập và trong cuộc sống. Xét về thiết kế chương trình giáo dục, việc tích hợp sẽ giúp cho việc giảm số môn học. Dạy học phân hóa là tổ chức dạy học tùy theo đối tượng, phù hợp tâm sinh lý, khả năng, nhu cầu và hứng thú của người học nhằm phát triển tối đa tiềm năng vốn có của mỗi học sinh”.

Thứ trưởng Hiển cho hay, sắp tới sẽ đẩy mạnh phân hóa, nhẹ bớt cho các em, học theo định hướng nghề nghiệp.

Theo phương án dạy học phân hóa của Bộ GD-ĐT, ở tiểu học và THCS, ngoài những môn học bắt buộc, học sinh sẽ được chọn thêm các chủ đề, hoạt động giáo dục khác phù hợp năng lực, sở thích, nhu cầu của mình. Sau THCS, học sinh sẽ phân luồng, học ở trường THPT hoặc các cơ sở giáo dục nghề nghiệp. Ở THPT sẽ tổ chức dạy học phân hóa theo hướng tự chọn. Có thể, lớp 10, tổ chức bước đầu định hướng nghề cho học sinh; học sinh sẽ học 7 – 10 môn bắt buộc. Còn lại là các môn học và hoạt động giáo dục tự chọn nhằm giúp học sinh có nhận thức thấu đáo hơn các lĩnh vực kiến thức khác nhau, làm cơ sở cho việc định hướng sau này.

Lớp 11 và 12 là giai đoạn thực hiện phân hóa mạnh và hướng nghiệp cao. Học sinh học ít môn, trong đó một số môn bắt buộc và một số môn tự chọn. Dự kiến có 3 môn bắt buộc (Tiếng Việt, Toán và Ngoại ngữ). Đồng thời, học sinh được chọn 3 môn/chủ đề trong danh mục các môn/chủ đề tự chọn như Vật lý, hóa, sinh, lịch sử, địa lý, công nghệ, khoa học về máy tính, kinh doanh, ngoại ngữ 2, nghệ thuật, hướng nghiệp…

Theo lãnh đạo Bộ GD-ĐT, dạy học tích hợp không gây xáo trộn về số lượng và cơ cấu giáo viên, không đòi hỏi phải tăng cường quá nhiều về cơ sở vật chất và thiết bị dạy học. Dạy học tích hợp là thay đổi căn bản ở THPT, bỏ hình thức phân ban, chuyển sang dạy học tự chọn. Lớp 11 và 12 học rất ít môn bắt buộc vì thế có thời gian tập trung cho các môn học tự chọn.

Các trường có thể chủ động lựa chọn các nghề ở địa phương, chủ động cùng các doanh nghiệp, nhà máy, công ty địa phương liên kết về dạy các nghề này, phục vụ công tác dạy nghề, hướng nghiệp của trường. Học sinh sẽ được học các môn hoặc các chủ đề tự chọn phụ thuộc vào khả năng đáp ứng tăng dần của các nhà trường hoặc được giới thiệu đến học ở các trường, các doanh nghiệp, nhà máy…


Chia sẻ bởi
CSKH WLike 0916183300 - 0984236411
Thiết kế website bởi Wlike.vn

Không thầy đố mày làm nên

Không thầy đố mày làm nên
Trong lớp học giờ đạo đức, thầy giáo đang giảng về công ơn của thầy cô. Thầy giáo hỏi cả lớp:
- Các em hãy cho thầy biết một câu ca dao về người thầy.
Lớp im lặng. Thầy giáo mớm ý:
- Câu này có 2 chữ "mày" và "nên"
Lớp im lặng tập 2. Thầy giáo lại mớm ý
- Câu này có cả 2 chữ "không" và "đố"
Lớp tiếp tục im lặng. Thầy giáo điên tiết:
- Câu này có 6 chữ, có cả 2 chữ "thầy" và "làm". Ðây là câu gì?
Cuối lớp có 1 cánh tay rụt rè giơ lên.
- Em cho biết đó là câu gì?
- Thưa thầy đó là câu "Làm thầy mày không nên đố"!


Chia sẻ bởi
CSKH WLike 0916183300 - 0984236411
Thiết kế website bởi Wlike.vn

Danh sách 10 cuốn sách học làm người bán chạy nhất


Danh sách 10 cuốn sách học làm người bán chạy nhất

Danh sách 10 cuốn sách học làm người bán chạy nhất, sách dạy làm người hay nhất, học làm người tốt
Sách học làm người là một trong những chủ đề luôn được độc giả quan tâm.

Liên tục đứng đầu bảng xếp hạng trong một thời gian dài, Đắc Nhân Tâm (How To Win Friends And Influence People) của Dale Carnegie chứng tỏ đây là cuốn sách có tầm ảnh hưởng nhất mọi thời đại. Tác phẩm được đánh giá là quyển sách đầu tiên và hay nhất, có ảnh hưởng làm thay đổi cuộc đời của hàng triệu người trên thế giới.

Đắc Nhân Tâm đã được chuyển ngữ sang hầu hết các thứ tiếng trên thế giới và có mặt ở hàng trăm quốc gia. Đây là quyển sách duy nhất về thể loại self-help liên tục đứng đầu danh mục sách bán chạy nhất (best-selling Books) do báo The New York Times bình chọn suốt 10 năm liền. Riêng bản tiếng Anh của sách đã bán được hơn 15 triệu bản trên thế giới.

Binh Pháp Tôn Tử, cuốn sách chiến lược chiến thuật do Tôn Vũ soạn thảo vào năm 512 TCN, không chỉ đặt nền móng cho binh học truyền thống, mà còn sáng tạo nên một hệ thống lý luận quận sự hoàn chỉnh đầu tiên trong lịch sử nhân loại. Bởi vậy, Binh Pháp Tôn Tử được tôn xưng là tuyệt tác binh thư hàng đầu của thế giới cổ đại.
Mặt khác, tuy là một bộ binh thư, nhưng tầm ảnh hưởng của Binh Pháp Tôn Tử lại không chỉ giới hạn trong lĩnh vực quân sự, mà còn có thể áp dụng vào những lĩnh vực khác như kinh tế học, thể dục, thể thao, khoa học…

Bài Giảng Cuối Cùng là cuốn sách đang tạm đứng ở vị trí thứ 3. Khi biết chỉ tồn tại được vài tháng trên đời do bệnh ung thư tụy, giáo sư Mỹ Randy Pausch lên bục giảng trình bày lần cuối kinh nghiệm sống của ông. Cuốn tự truyện ông viết trước khi ra đi ở tuổi 47 gây xúc động mạnh mẽ. Bài giảng của ông - "Thật sự đạt được những ước mơ tuổi thơ" - không nói về cái chết, mà về việc vượt qua các trở ngại, về việc giúp những người khác biến ước mơ thành sự thật, về việc tận dụng từng phút giây trong cuộc đời.

Sau đây là danh sách best seller sách học làm người tại vinabook.com từ ngày 07/06/2010 đến 13/06/2010:



Đắc Nhân Tâm Tác Giả: Dale Carnegie - NXB: Trẻ


Binh Pháp Tôn Tử Tác Giả: Đức Thành - NXB: Văn Hóa Thông Tin

Bài Giảng Cuối Cùng Tác Giả: Randy Pausch. Jeffrey Zaslow – NXB: Trẻ

Những Kỹ Năng Dành Cho Cuộc Sống Tác Giả: Alla & Barbara Pease – NXB: Tổng Hợp TPHCM

Cuốn Sách Hoàn Hảo Về Ngôn Ngữ Cơ Thể Tác Giả: Alla & Barbara Pease – NXB: Tổng Hợp TPHCM

Yes Or No – Những Quyết Định Thay Đổi Cuộc Sống Tác Giả: MD. Spencer Johnson – NXB: Tổng Hợp TPHCM

Phương Pháp Luận Sáng Tạo Và Đổi Mới Tác Giả: Phan Dũng – NXB: Trẻ

Bí Mật Của Một Trí Nhớ Siêu Phàm Tác Giả: Eran Katz – NXB: Tri Thức

Dám Nghĩ Lớn Tác Giả: David J.Schwartz.Ph.D - NXB: Trẻ

Quẳng Gánh Lo Đi & Vui Sống Tác Giả: Dale Carnegie – NXB: Trẻ

Chia sẻ bởi
CSKH WLike 0916183300 - 0984236411
Thiết kế website bởi Wlike.vn

Thứ Bảy, 27 tháng 9, 2014

"Muốn được điểm 10 thì phải làm gì?"


"Muốn được điểm 10 thì phải làm gì?"

 Khi trả lời được ba câu hỏi “Tại sao em được 5?”, “Em muốn được 6 thì làm thế nào? Em muốn được 10 thì phải làm gì nữa?” thì đấy mới là đánh giá.
Kỳ thi quốc gia: Giải pháp học- thi cho học sinh đang học và thi trượtMuốn làm đại học không lợi nhuận, thì phải làm thế nào?Thông tin chi tiết phương án thi quốc gia từ năm 2015


Ngay khi Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Thông tư ban hành Quy định đánh giá học sinh tiểu học thay thế Thông tư số 32/2009/TT-BGDĐT ngày 27 tháng 10 năm 2009 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc ban hành Quy định đánh giá và xếp loại học sinh tiểu học có hiệu lực từ này 15/10/2014, vậy thì thay đổi cách đánh giá học sinh cần phải thay đổi từ những vấn đề nào, từ giáo án, nhận xét của thầy cô hay cả kênh "họp phụ huynh"?

Liên quan đến vấn đề này, PV đã có cuộc trao đổi với PGS.TS Mai Văn Hưng – Chủ nhiệm bộ môn Khoa học tự nhiên, Trường Đại học Giáo dục đồng thời là Giám đốc Trung tâm Nhân học và Phát triển trí tuệ - ĐHQG HN.

Giáo viên phải trả lời được ba câu hỏi

Theo PGS.TS Mai Văn Hưng, mục đích của Thông tư này nhằm giảm áp lực không cần thiết với học sinh, áp lực mà lâu nay đã góp phần làm vơi đi sự hồn nhiên tuổi thơ của các em. Sự thay đổi này hoàn toàn phù hợp với tâm sinh lý học sinh tiểu học, không phải ở nước mình mà nhiều nước trên thế giới cũng đã làm.
Từ ngày 15/10/2014, quy định mới về đánh giá học sinh tiểu học chính thức được áp dụng trên cả nước


PGS.TS Mai Văn Hưng cũng chia sẻ thêm: “Thực chất hiện nay, tiểu học chỉ cần nhận xét là được, nhận xét cũng là một phần của kiểm tra đánh giá. Ở các cấp học cao hơn ở phổ thông việc kiểm tra đánh giá nằm trong hoạt động thường xuyên của quá trình dạy học. Hãy hình dung bố cục một tờ giấy kiểm tra có một ô vuông nhỏ bên phải ghi “Điểm” và một ô dài hơn bên trái ghi “Lời phê”. Hiểu đơn giản nhất thì “Điểm” chính là phần “kiểm tra”, lời phê là phần “đánh giá”, trong khi đó tờ giấy thi bố cục chỉ có ô kiểm tra (ô nhỏ) mà không cần ô đánh giá (ô lớn hơn) nữa.

Thực tế lâu nay nhiều giáo viên sau khi cho điểm vào ô nhỏ việc viết vào ô bên trái chỉ là giải mã con điểm chứ không phải là đánh giá bài kiểm tra. Chẳng hạn ô nhỏ ghi 5 điểm, ô lớn hơn viết là trung bình, nếu ghi 7 điểm viết là khá mà không giải thích vì sao lại được 5 hay 7. Lẽ ra phần lời phê phải giải thích rõ bài kiểm tra được 5 vì sao?, muốn được 6 phải làm thế nào? và muốn được 10 phải làm gì?”.


Như vậy, khi trả lời được ba câu hỏi “Tại sao em được 5?”, “Em muốn được 6 thì làm thế nào? Em muốn được 10 thì phải làm gì nữa?” thì đấy mới là đánh giá. Rất tiếc là một số giáo viên không mấy quan tâm đến các câu hỏi này. Vì vậy, học sinh được điểm thấp không biết vì sao bị thấp , không biết cái sai của mình. Mà trong việc học, quan trọng là học từ cái sai của chính mình để không còn bị sai nữa. Thêm nữa việc đánh giá cũng cần có cả những lời khuyến khích để tạo cho học sinh thấy rằng mình ngày càng tiến bộ. Nên nhớ rằng, nếu ta cho học sinh “5­ –“ thì sẽ không hay bằng cho “5+” – PGS.TS Mai Văn Hưng lí giải thêm.

Mặc dù đó những chi tiết nhỏ nhưng nó thể hiện việc chúng ta kiểm tra đánh giá thật công bằng, và đứa trẻ phải được hưởng lợi từ kết quả đánh giá đó. Đấy là kiểm tra đánh giá nói chung.

Lứa tuổi tiểu học đang chuyển từ chơi nhiều học ít (ở bậc mần non) sang chơi ít học nhiều. Tiểu học những năm đầu đang ở ranh giới chuyển từ Chơi - Học sang Học - Chơi. Các em vẫn phải vừa chơi vừa học nên việc nhận xét là cần thiết, không “kiểm tra” (cho điểm) nữa, mà chỉ “đánh giá” (phê) thôi để học sinh biết thế nào là đúng, thế nào chưa đúng, thế nào là tốt ít, thế nào tốt nhiều... sẽ tạo cho các em có hướng phấn đấu, phát triển.

Nhắc tên con thì chú ý

Với cấp tiểu học, một năm thường có 3 cuộc họp phụ huynh vào đầu năm học, cuối học kì I và cuối năm học. Cuộc họp phụ huynh liên quan nhiều đến kiểm tra đánh giá. Tâm thế của người đi họp thường quan tâm con học như thế nào, được bao nhiêu điểm, có thái độ ra sao với bạn bè, thầy cô, đóng tiền thế nào, nhiều hay ít...

Với cuộc họp đầu năm học, PGS.TS Mai Văn Hưng cho rằng: “Ngay từ đầu năm chúng ta đưa ra một nguồn kinh phí ngay trong buổi họp phụ huynh sẽ tạo nên một áp lực kinh tế đối với cha mẹ học sinh, áp lực kinh tế này lại tạo nên áp lực về tinh thần. Người họp phụ huynh có cảm giác như đang bị ép phải đóng...”
PGS.TS Mai Văn Hưng cho rằng cuộc họp cuối kì I là quan trọng nhất giống như nghỉ giữa hiệp của một trận đá bóng. Ảnh: Hồng Nhung


Kiến nghị được PGS.TS Mai Văn Hưng đưa ra là trong buổi họp phụ huynh đầu tiên nên đưa ra những định hướng học tập nhằm giúp học sinh đạt kết quả tốt, không nên đề cập nhiều đến việc đóng góp những khoản tiền lớn.

Bàn về việc thu tiền từ phụ huynh nếu có nên cho họ biết rõ số tiền đó thu để làm gì, thu như thế nào.... Tính minh bạch trong việc thu chi là quan trọng. Cõ lẽ nếu việc thu chi để phục vụ cho việc học con họ thì mọi người sẽ đồng thuận thôi.

Cũng theo PGS.TS Mai Văn Hưng, trong ba cuộc họp phụ huynh, cuộc họp cuối kì I là quan trọng nhất chứ không phải là cuộc họp cuối năm: “Người ta rất muốn biết kết quả học tập của con họ qua 1 học kì như thế nào và trên cơ sở kết quả đó, họ sẽ có những tác động, giáo dục con họ phấn đấu trong học kì tiếp theo, cái đó là quan trọng, bởi vì kết quả cuối năm mới quyết định việc lên lớp hay ở lại”.


Thủ tướng đồng ý một chương trình, nhiều sách giáo khoa

“Họp cuối kì I giống như nghỉ giữa hiệp của 2 hiệp đá bóng. Giữa 2 hiệp chỉ có 15 phút nghỉ, là lúc các HLV trao đổi lại với các cầu thủ để khắc phục lại hiệp 1 chưa tốt, phát huy những gì làm tốt ở hiệp 1, kết quả hiệp 2 là kết quả cuối cùng chung cuộc. Vì vậy, trong buổi họp phụ huynh cuối kì I, giáo viên giống như là HLV phải phân tích được cho phụ huynh biết học kì vừa rồi con có những gì đã được, cái gì chưa được. Việc phân tích không chỉ trong phạm vi toàn lớp mà với từng học sinh” – PGS.TS Mai Văn Hưng lấy thí dụ.

Ông cũng đưa ra một thực tế ở các cuộc họp “người ta cứ thấy nói tên con họ thì người ta chú ý, họ chú ý vị trí con họ so với con người khác. Hai cái đó phải đánh vào tâm lí của họ. Con họ học đến đâu, cái gì được cái gì chưa được … Nhưng nếu ta chỉ đưa mỗi việc cái được và cái chưa được thì chưa đủ mà phải thêm một nội dung quan trọng đó là, nếu chưa được bây giờ muốn được thì phải làm thế nào? phải đưa ra giải pháp để giúp việc giáo dục, việc học của đứa bé đó học kì sau tốt hơn. Quan trọng là cái giải pháp. Người phụ huynh quan tâm làm thế nào để con học tốt, bởi vì không phải ai cũng làm về giáo dục, người giáo viên là người làm về giáo dục nên cần phân tích cái nào được chưa được và phải đưa ra giải pháp”.

PGS.TS Mai Văn Hưng cũng cho rằng, đừng trầm trọng hóa kết quả của học sinh, đừng quá nhấn mạnh sự xếp loại em này thứ nhất, em kia thứ hai, thứ ba, có thể chỉ cần đọc cho phụ huynh điểm tổng kết mà không cần phải xếp hạng, thậm chí không cần đọc điểm tổng kết mà chỉ cần thông báo cho phụ huynh bằng sổ sổ liên lạc gia đình là đủ.

Nên nhớ là không có em học sinh nào hoàn toàn kém, cũng không có em học sinh nào hoàn toàn giỏi, không nên lấy 1, 2 môn làm tiêu chí để đo xếp loại “toàn tập” học sinh, việc xếp loại theo môn Toán, Văn hoặc theo kết quả học tập chung cũng chỉ là 1 phần của đánh giá.

PGS.TS Mai Văn Hưng dẫn chứng thêm, Tiến sĩ Tâm lý Howard Gardner cho rằng con người có tám loại trí thông minh, thậm chí còn nhiều hơn. Như vậy, học Toán giỏi cũng là một loại thông minh, học Văn giỏi là một loại thông minh khác, đá bóng giỏi, hát hay,… cũng là những loại thông minh khác nhau

Do đó, cần phải đánh giá học sinh trên cơ sở nhiều mặt, chứ đừng bao giờ chỉ qua học văn hóa. Các môn học là bình đẳng, không nên đặt môn nào hơn môn nào. Lâu nay chúng ta vẫn coi môn chính môn phụ mặc dù Bộ GD&ĐT không bao giờ có văn bản nào quy định môn chính môn phụ.

“Kết quả học tập chỉ được 5,0 thôi, nhưng môn thể dục được 9 vậy thì phải khen em có năng khiếu sở trường về thể dục thể thao, cái này rất tốt vì sức khỏe là vốn quý, có em âm nhạc tốt, điểm âm nhạc cao là có năng khiếu âm nhạc… Phụ huynh nghe thấy con học lực trung bình nhưng có năng khiếu âm nhạc, họ thấy thoải mái, học trung bình nhưng đá bóng cũng tốt sau này trở thành cầu thủ...” – ông bày tỏ thêm.

Thêm vào đó, PGS.TS Mai Văn Hưng chia sẻ, trong cuộc họp phụ huynh, giáo viên chỉ cần nhận nét khái quát cho mỗi học sinh qua 1,2 câu thôi, em nào cũng được nhắc tên, còn cụ thể, chi tiết sẽ được ghi trong sổ theo dõi, sổ liên lạc.

Về cuộc họp tổng kết cuối năm học không phải là quan trọng nhất so với cuộc họp cuối kì I. Cuộc họp cần cung cấp cho người ta thông tin về cả một năm giáo dục, dĩ nhiên vẫn phải phân tích những điểm được và chưa được, bởi các em vẫn học tiếp năm học sau. Cuộc họp cuối năm, kết thúc nặng về kết quả kiểm tra hơn là về đánh giá (cuối kì I nặng về kết quả đánh giá hơn là kết quả kiểm tra). Bên cạnh các cuộc họp chính thống cũng có những cuộc họp riêng mang tính chất bất thường...

Chia sẻ bởi
CSKH WLike 0916183300 - 0984236411
Thiết kế website bởi Wlike.vn

Người Nhật dạy học sinh tiểu học như thế nào?

Người Nhật dạy học sinh tiểu học như thế nào?


Giáo viên Nhật quan niệm lớp học càng đông, việc dạy học càng hiệu quả; ở Phần Lan, trẻ em bắt đầu đi học lúc 7 tuổi, trễ hơn các nước khác, New Zealand cho học sinh sử dụng Internet từ lúc 5 tuổi, học trò Singapore cùng được học nhiều ngôn ngữ khác nhau...


Phần Lan: Tự do sáng tạo
Ở Phần Lan, trẻ em đi học muộn hơn (lúc 7 tuổi) so với trẻ em hầu hết các nước khác và bài tập về nhà cũng ít hơn so với học sinh ở châu Á, Mỹ. Tuy nhiên, họ luôn dẫn đầu về lĩnh vực văn học, toán và khoa học.

Giáo viên ở đây luôn tìm cách tiếp cận nhẹ nhàng, ít tạo áp lực cho học sinh. Bob Compton - tác giả loạt phim tài liệu The Finland Phenomenon: Inside the World's Most Surprising School System (tạm dịch: Hiện tượng Phần Lan: Bên trong hệ thống giáo dục đáng ngạc nhiên nhất thế giới) - nói: “Trong lớp học người Phần Lan, bạn sẽ thấy rất nhiều hoạt động tay chân như vẽ, nhào nặn đất sét, chơi nhạc... Lớp học khá nhỏ, mỗi lớp có 2 giáo viên”.


Trẻ em Phần Lan thỏa sức sáng tạo tại nhà trẻ và trường học.

Trẻ em dưới 7 tuổi không ghi danh lớp học nhưng các em có thể đến các trung tâm chăm sóc trẻ để chơi các trò chơi sáng tạo và được dạy các kỹ năng xã hội cần thiết. Giáo viên Phần Lan đòi hỏi phải có chuyên môn, phải trải qua 1 năm được đào tạo, giám sát chuyên môn sau khi thi tốt nghiệp.

Singapore: Giáo viên xuất sắc

Dạy học là nghề có địa vị cao nhất ở đất nước này. Những sinh viên thuộc tốp 3 trong ở trường đại học thường được các nhà tuyển dụng tin dùng. Ngoài ra, các giáo viên trẻ này phải hoàn thành khóa học đặc biệt trước khi đứng lớp. Trong suốt thời gian công tác, giáo viên thường xuyên bị kiểm tra kiến thức về trẻ em như trẻ học, lớn và phát triển như thế nào.


Học sinh ở Singapore được học nhiều ngôn ngữ.

Singapore luôn đứng đầu thế giới về toán học, khoa học, văn học… Khác với Phần Lan, quốc đảo này sẵn sàng cho trẻ học chữ sớm ngay từ trường mẫu giáo để chuẩn bị lên lớp 1. Ngôn ngữ kinh doanh của Singapore là tiếng Anh nhưng trẻ em nước này nói được cả tiếng Quan thoại, Malaysia, Tamil như ngôn ngữ thứ hai, một số khác còn học ngôn ngữ thứ 3, thứ 4 tại trường. Tuy nhiên, hệ thống giáo dục nước này không dạy trẻ học thuộc vẹt, riêng đạo đức và công dân là 2 môn bắt buộc trong trường học.

New Zealand: Sử dụng Internet lúc 5 tuổi

Ở New Zealand, bạn không phải lo lắng về việc nên bắt đầu cho con sử dụng mạng Internet lúc bao nhiêu tuổi vì ở đây, trẻ em trao đổi bài vở qua mạng khi còn rất nhỏ.

“Trẻ bắt đầu sử dụng công nghệ khi mới lên 5. Ở tuổi này, chúng vẽ được các chương trình độ họa đơn giản và gửi lời chú thích cho giáo viên. Khi lên lớp 3, học sinh có thể tự đăng bài viết và hình vẽ một cách động lập lên mạng. Viết blog là một cách để mỗi học sinh có tiếng nói riêng”, Sarah McPherson, Trưởng Khoa Công nghệ giảng dạy ở Viện Công nghệ New York, người mới có chuyến thăm các trường New Zealand, cho biết.

Khi lên lớp 3, học sinh New Zealand có thể tự đăng bài viết và hình vẽ một cách động lập lên mạng.

Nhật: Càng đông càng trật tự

Đáng ngạc nhiên là người Nhật quan niệm rằng lớp học đông (khoảng 28 em/lớp, ở Mỹ 23 em/lớp) sẽ là môi trường học tập hiệu quả. Khi một giáo viên hướng dẫn một lớp đông các em nhỏ là họ đang tạo điều kiện cho các đồng nghiệp còn lại có thời gian nghiên cứu, soạn bài, dạy kèm những học sinh cá biệt.


Trẻ em Nhật cạnh tranh ở mọi cấp độ, bắt đầu với cuộc chiến hòa nhập và học hỏi sau khi rời trường mẫu giáo.

Verna Kimura, một nhà tư vấn giáo dục đã sống và giảng dạy tại Nhật hơn 20 năm, nói: “Lớp học đông hơn so với ở Mỹ và giáo viên toàn quyền kiểm soát. Bọn trẻ cạnh tranh ở mọi cấp độ, bắt đầu với cuộc chiến hòa nhập và học hỏi sau khi rời trường mẫu giáo. Người Nhật tin rằng những thói quen hình thành trong những năm đầu đến trường sẽ theo chúng khi lớn lên. Khi mới 6-7 tuổi, bọn trẻ được dạy cụ thể về kỹ năng làm bài thi, chẳng hạn như cách sử dụng phương pháp loại trừ để tìm câu trả lời chính xác. Theo nhà tư vấn giáo dục Kimura, cách tiếp cận này có vẻ áp lực nhưng không khí căng thẳng sẽ giúp các em xây dựng tính trật tự, bền bỉ và trách nhiệm”.

Chia sẻ bởi
CSKH WLike 0916183300 - 0984236411
Thiết kế website bởi Wlike.vn

Học văn là học chơi với chữ


Học văn là học chơi với chữ

"Học sinh vẫn ngại, vẫn chán học văn vì học chẳng để làm gì, vì làm bài một kiểu nhưng ra ngoài diễn đạt, thể hiện cái mình nghĩ lại theo cách khác".
Những học sinh đầu tiên thi “kỳ thi quốc gia” nói gì?Kỳ thi quốc gia: Phải giảm khó cho học trò, nâng yêu cầu với giám thịKỳ thi quốc gia năm 2015- tiếng nói người trong cuộc


Đó là chia sẻ của TS Tôn Quang Cường – chủ nhiệm Khoa Sư phạm, Trường Đại học Giáo dục, Đại Học Quốc gia Hà Nội về thực trạng học Ngữ văn trong nhà trường hiện nay xung quanh ý kiến về phương án tổ chức kỳ thi quốc gia mà Bộ Giáo dục và Đào tạo mới công bố.


Môn thi ổn, thực hiện nóng vội


Trước đó, TS Tôn Quang Cường có đề xuất nên để ba môn thi bắt buộc gồm Toán, Ngữ văn, Ngoại ngữ, bởi đây là ba môn học nền tảng. Khi Bộ GD&ĐT công bố môn thi để được công nhận tốt nghiệp THPT và xét tuyển vào các trường ĐH, CĐ gồm 4 môn (4 môn thi tối thiểu) trong đó có 3 môn bắt buộc là Toán, Ngữ Văn, Ngoại ngữ và 1 môn tự chọn trong số các môn Vật lí, Hóa học, Sinh học, Lịch sử và Địa lí.




Học sinh lớp 12 sẽ gặp nhiều khó khăn khi áp dụng luôn phương án thi quốc gia trong năm học này. (Ảnh minh họa)


TS Tôn Quang Cường cho rằng như thế là ổn. Có hai lí do được TS Tôn Quang Cường đưa ra, thứ nhất là bản thân học sinh sẽ chủ động hơn trong lựa chọn thi để tốt nghiệp và thi để chuẩn bị thi đại học, đồng thời chủ động hơn về thời gian và đi lại. Trong mọi trường hợp, học sinh sẽ không bị áp lực khi thi đại học như trước nếu buộc phải đồng thời học để thi tốt nghiệp và thi đại học.


Những học sinh đầu tiên thi “kỳ thi quốc gia” nói gì?

Học sinh lớp 12 - thế hệ đầu tiên tham dự kỳ thi quốc gia chung chia sẻ nhiều tâm trạng khác nhau trước phương án tổ chức thi mà Bộ GD&ĐT công bố.

TS Tôn Quang Cường lấy thí dụ, như trước đây thi đại học khối A nhưng vẫn phải lo học môn Ngữ văn thi tốt nghiệp, trong khi thời gian giữa 2 kì thi khá gần nhau.

Mặc dù đồng ý với đề xuất ba môn thi bắt buộc, nhưng TS Tôn Quang Cường lại cho rằng: “Khi áp dụng luôn trong năm học này với học sinh lớp 12 sẽ gặp rất nhiều khó khăn, thực hiện có phần nóng vội. Học sinh chưa kịp thích ứng, dư luận xã hội chưa được chuẩn bị, các trường đại học cũng chưa biết nên chủ động tổ chức thế nào”.

TS Tôn Quang Cường nhấn mạnh lại rằng phương án thi bắt đầu từ năm 2017 là hợp lý nhất.

Về kết quả của kỳ thi quốc gia với phương án mà Bộ GD&ĐT công bố liệu có tin cậy với các trường ĐH, CĐ, TS Tôn Quang Cường chia sẻ rằng: “Hai khái niệm không phủ nhận nhau. Độ tin cậy và độ giá trị của kết quả thi tốt nghiệp phụ thuộc vào nội dung và cách tổ chức (thi gì và như thế nào). Ở đây có hai mặt của một vấn đề, Bộ phải làm kì thi thật khoa học, còn các trường ĐH, CĐ sẽ sử dụng kết quả đến mức nào (trong sự tích hợp đánh giá với các tiêu chí riêng của họ).

Học lệch là biểu hiện của văn hóa ứng thí


Trước nhiều ý kiến lo lắng về phương án thi sẽ dẫn đến tình trạng học lệch, quan điểm của TS Tôn Quang Cường cho rằng: “Học lệch là một quan niệm xuất phát từ việc chưa khoa học trong tổ chức kiểm tra đánh giá, là một biểu hiện của "văn hóa ứng thí". Ở một khía cạnh khác nên coi xu hướng này một cách tích cực hơn như học có định hướng, có lựa chọn, có phân hóa... Do đó không sợ hậu quả học lệch như quan niệm cũ”.




TS Tôn Quang Cường cho rằng học lệch là một biểu hiện của văn hóa ứng thí.


Phương án thi kiểu này buộc các trường sẽ chủ động hơn trong kế hoạch, khả năng sẽ dẫn đến 1 hiện tượng rất khoa học đó là có "lớp môn học", "nhóm học"…

Như thế, có hiện tượng phân hóa mạnh để tổ chức dạy học cho học sinh, ví dụ có 10 học sinh lớp 10A1 đăng kí thi Vật lí tốt nghiệp, như vậy 10 học sinh này có thể được ghép cùng với 5 học sinh lớp 10A2, 7 học sinh lớp 10A5... thành lớp môn học Vật lí X của trường. Điều này ở các nước tiên tiến trên thế giới họ vẫn làm thế từ lâu.

Nhiều chuyện ngược đời và trái khoáy ở ngành giáo dục

Nói như vậy thật chẳng ngoa khi mà đã hô hào đổi mới mấy chục năm trời nhưng hệ thống giáo dục vẫn rối rắm, quản lý nhà nước chồng chéo, thiếu tính tiêu chuẩn.

TS Tôn Quang Cường cũng chia sẻ thêm rằng, việc đưa môn Ngữ văn vào môn thi bắt buộc cho thấy ý nghĩa, tầm quan trọng của việc học văn trong cuộc sống: “Việc học văn có ý nghĩa rất quan trọng trong cuộc sống. Tuy nhiên, từ trước nay, chúng ta luôn tạo áp lực học văn cho học sinh, dẫn đến việc học sinh chán, ngại học văn bởi cứ muốn học sinh phải như nhà phê bình văn học, áp đặt cái cô cảm thụ được thì học sinh cũng phải gần gần được như vậy, làm bài khuôn mẫu để lấy điểm cao…”.

Chia sẻ thêm, TS Tôn Quang Cường cho là: "Học sinh vẫn ngại, vẫn chán học văn (trước và cho đến thời điểm này) vì học chẳng để làm gì, vì làm bài một kiểu nhưng ra ngoài diễn đạt, thể hiện cái mình nghĩ lại theo cách khác". TS nhấn mạnh rằng “xa rời thực tế”.

Học văn là phải hướng đến các kĩ năng sử dụng ngôn ngữ để thể hiện được cái mình nghĩ, cái mình hiểu… về mọi cái (khoa học tìm cách lập luận còn nghệ thuật tìm cách để trình bày). Không khuôn mẫu, miễn sao thể hiện được cái mình muốn thể hiện, diễn đạt theo những bối cảnh, chuẩn mực chung… Thuyết phục, chia sẻ được cái mình muốn thể hiện với nhiều đối tượng khác nhau; xây dựng được niềm tin, giá trị riêng, tự tin trước cuộc sống...

Chia sẻ bởi
CSKH WLike 0916183300 - 0984236411
Thiết kế website bởi Wlike.vn

Giáo dục kỹ năng sống: Cần một giáo trình căn bản

Giáo dục kỹ năng sống: Cần một giáo trình căn bản

Việc Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) xem xét đưa môn kỹ năng sống lồng ghép vào chương trình giảng dạy đang được dư luận rất quan tâm. Tuy nhiên, công tác giảng dạy còn thiếu giáo trình chuẩn. Từ nhiều năm nay, các nước trên thế giới đã đưa môn học giáo dục kỹ năng sống vào chương trình học ở bậc tiểu học. Tại Việt Nam, những năm gần đây cũng đã xuất hiện loại hình này song chủ yếu ở các thành phố lớn như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh…



Giáo dục kỹ năng sống: Cần một giáo trình căn bản

Chương trình đổi mới phương pháp dạy học của ngành giáo dục được coi là lấy học sinh là trung tâm nhưng cũng chưa đáp ứng được những vấn đề liên quan đến kỹ năng sống.

Học sinh thiếu kỹ năng sống

Những năm gần đây, tình trạng trẻ vị thành niên phạm tội có xu hướng gia tăng. Đặc biệt, xuất hiện những vụ án giết người, cố ý gây thương tích mà đối tượng gây án là học sinh và nạn nhân chính là bạn học và thầy cô giáo của họ. Bên cạnh đó là sự bùng phát hiện tượng học sinh phổ thông hút thuốc lá, uống rượu, tiêm chích ma tuý, quan hệ tình dục sớm..., thậm chí là tự sát khi gặp vướng mắc trong cuộc sống.

Nhiều em học giỏi, nhưng ngoài điểm số cao, khả năng tự chủ và kỹ năng giao tiếp lại rất kém. Các em sẵn sàng đánh nhau, chửi bậy, sa đà vào các tệ nạn xã hội, thậm chí liều lĩnh từ bỏ cả mạng sống…

Có nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn đến tình trạng trên, nhưng theo các chuyên gia giáo dục, nguyên nhân sâu xa là do các em thiếu kỹ năng sống. Các em chưa bao giờ được dạy cách đương đầu với những khó khăn của cuộc sống như cha mẹ ly hôn, gia đình phá sản, kết quả học tập kém... Các em không được dạy để hiểu về giá trị của cuộc sống.
Thực tế, việc giáo dục toàn diện cho học sinh, trong đó có kỹ năng sống, ở nước ta còn rất hạn chế. Nhà trường vẫn còn quan niệm dạy học là dạy kiến thức chứ chưa dạy các em thái độ, kỹ năng ứng xử trong các mối quan hệ (với con người, với môi trường thiên nhiên...).

Trong khi đó, các giáo viên đến lớp chỉ mỗi việc đọc cho học sinh chép, hết giờ thì ra khỏi lớp. Giáo viên chủ nhiệm, cả tuần cũng chỉ có một tiết sinh hoạt lớp. Thày, cô giáo chủ nhiệm, được giao phụ trách học sinh nhưng với không có thời gian nắm tình hình của từng em.

Em Hoàng Tùng, học sinh lớp 11 trường THPT Trương Định cho biết, trong các buổi sinh hoạt lớp cô chủ nhiệm chỉ là xem tuần qua lớp có vấn đề gì, ai đi học muộn, trốn tiết…

Ngoài ra, việc xử lý “thiếu tình, thiếu lý” một số vụ việc của thầy, cô giáo không làm cho học sinh (nhất là học sinh cá biệt) “tâm phục, khẩu phục”. Vì vậy, khi “có vấn đề”, học sinh cá biệt thường tìm cách trốn tránh, nếu phải đối diện thì tỏ thái độ bất cần.

Với các em có vấn đề rắc rối về gia đình hoặc bản thân, thầy cô cũng chỉ biết láng máng qua cô giáo lớp cũ hay các bạn trong lớp nói lại. “Những thông tin này nhiều khi do cảm tính, dẫn đến cái nhìn méo mó, thiếu thiện cảm, kéo dài khoảng cách thầy, trò”, em Tùng nói.

Các chuyên gia cho rằng, đó là một khiếm khuyết rất lớn trong giáo dục và đào tạo học sinh. Chúng ta mới chỉ nghiêng về đào tạo mà coi nhẹ phần giáo dục toàn diện cho học sinh.
Giáo trình nào dạy kỹ năng sống ?

Nắm bắt nhu cầu xã hội, hàng loạt các trung tâm, khoá học dạy kỹ năng sống đua nhau “mọc lên như nấm sau mưa”. Có thể kể đến Cung Thiếu nhi Hà Nội, Trường đội Lê Duẩn, Trung tâm ABS Training, Eveil, Skids Club...

Các trung tâm này, chiêu sinh đủ mọi lứa tuổi, thậm chí, có khoá học chiêu sinh trẻ ở tuổi lên... ba! Mức học phí cũng đủ mức, tuỳ theo các chương trình, các khoá học: từ 5 buổi/tuần hay từ 1 đến 2 năm…

Lớp học giáo dục kỹ năng sống tại Trung tâm ABS Training (Hà Nội) dạy các em biết giới thiệu về bản thân và gia đình mình trước đám đông, thích và không thích điều gì, nói về khó khăn của mình với bố mẹ, người thân… “Chúng tôi dạy cho các em các cách giao tiếp với người lạ, cách tự bảo vệ mình”, TS Trần Bội Lan, Trung tâm ABS Training cho biết.

Điều đáng nói ở đây là mỗi nơi dạy kỹ năng sống theo một cách, mà cách đó phụ thuộc hoàn toàn vào giáo viên. Nói một cách khác, họ thuê được giáo viên ở đâu (Viện Tâm lý, chuyên viên tâm lý, giảng viên ĐH...) thì học sinh sẽ được dạy kỹ năng sống theo góc nhìn của giáo viên đó, chứ không dựa trên một giáo trình cơ bản nào.

Tại Trường đội Lê Duẩn, nơi được coi là “chuẩn” về dạy kỹ năng sống. Trong 6 ngày học tập trung tại đây, các em cũng cũng chỉ được học một số kỹ năng như giới thiệu, làm quen, thuyết trình... với chi phí 180.000 đồng/ngày.

Hầu hết, nội dung các chương trình học vẫn nặng về thuyết, kết hợp hỏi - đáp, giống như sinh hoạt chuyên đề tập thể hơn là thực hành để rèn luyện hay sở hữu kỹ năng. Gần đây, có thêm một số công ty dạy kỹ năng sống nhưng nội dung vẫn chỉ loanh quanh ở các kỹ năng như giao tiếp, thuyết trình, MC…

“Giáo trình giảng chủ yếu dựa vào giáo trình của các nước khác, chỉnh sửa cho phù hợp với điều kiện xã hội và thuần phong mỹ tục của Việt Nam”, Bà Nguyễn Thị Cúc, Chuyên gia lớp học kỹ năng sống Hà Nội cho hay.

Cần chương trình giáo dục phù hợp


Nếu lạc đường em tìm ai để hỏi? Nếu người lạ đụng chạm vào người, em sẽ phải làm gì? Nếu bị ai bắt nạt em sẽ kêu cứu như thế nào?... Những bài học đơn giản như thế sẽ cho các em những kỹ năng để ứng phó trong những hoàn cảnh nguy cấp.


Thực tế, chương trình giáo dục kỹ năng sống được ngành giáo dục triển khai từ rất lâu theo phương pháp lồng ghép trong các môn học như đạo đức, giáo dục công dân, văn học…

Thông qua dự án “Giáo dục sống khoẻ mạnh, kỹ năng sống cho trẻ và vị thành niên”, với sự hỗ trợ của UNICEF tại Việt Nam, từ năm 2001, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã thực hiện giáo dục kỹ năng sống cho học sinh phổ thông các tỉnh: Lào Cai, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Hải Phòng, Hà Nội, Gia Lai, Kon Tum, TP Hồ Chí Minh, An Giang, Kiên Giang.

Các em được rèn luyện kỹ năng ứng phó với những tác động ảnh hưởng đến cuộc sống như: phòng chống HIV/AIDS, ma tuý, sức khoẻ sinh sản, vấn đề quan hệ tình dục sớm…

Dự án khá thành công, hình thành thái độ tích cực của học sinh đối với việc xây dựng cuộc sống khoẻ về thể chất, mạnh về tinh thần, hiểu biết về xã hội, đồng thời nâng cao nhận thức của cha mẹ học sinh để họ chủ động trong việc truyền thụ kiến thức kỹ năng cho con em mình. Tuy nhiên, những chương trình như thế này chưa nhiều.

Xã hội ngày càng phát triển, giáo dục kỹ năng sống là việc hết sức quan trọng. Giáo dục kỹ năng sống cần bắt đầu từ tiểu học, thậm chí là ở tuổi mầm non. Ở lứa tuổi này đã hình thành những hành vi cá nhân, tính cách và nhân cách.

Tuy nhiên, khi kỹ năng sống chưa được xem như một môn học chính thức trong nhà trường, các cơ quan chức năng cũng nên sớm có những tài liệu cơ bản về môn học này, góp phần giúp các trung tâm, phụ huynh hiểu thấu đáo về môn học này.

Tiến sỹ Trần Văn Dần, trường Đại học Y Hà Nội cho rằng, bây giờ mới đưa vấn đề giáo dục kỹ năng sống cho học sinh ra thảo luận là muộn. Nhưng dù muộn cũng cần phải xây dựng một giáo trình căn bản dựa trên mục tiêu chung từ lớp 1 đến lớp 12.

Tuy nhiên, để triển khai có hiệu quả chương trình giáo dục kỹ năng sống, theo tiến sĩ Dần, trước hết cần điều tra hiện trạng hiểu biết của học sinh, qua đó xây dựng chương trình giáo dục phù hợp với tâm sinh lý của từng lứa tuổi. Về mặt nội dung giảng dạy, cần có nhiều giải pháp, áp dụng cụ thể cho từng lứa tuổi…

Chia sẻ bởi
CSKH WLike 0916183300 - 0984236411
Thiết kế website bởi Wlike.vn

Thứ Sáu, 26 tháng 9, 2014

Quy trình soạn giáo án THCS


Quy trình soạn giáo án THCS

Soạn giáo án là công việc thường nhật của mỗi giáo viên. Với sự hỗ trợ của công cụ điện tử hiện đại, tài liệu tham khảo... công việc soạn giáo án của giáo viên có phần được giảm đi về thời gian, công sức, việc tư duy… Một số khâu trong quy trình soạn giáo án vì nhiều lí do khác nhau người soạn đã chưa chú trọng, chưa thầy hết vai trò, vị trí và tầm quan trọng. Muốn có được tiết dạy tốt là mong muốn của mọi giáo viên khi lên lớp. Mặc dù vậy người dạy vẫn loay hoay, trăn trở đi tìm nguyên nhân. Để góp thêm những cách hiểu nhỏ về một vấn đề lớn, chúng tôi xin đưa ra một số ý kiến để cùng chia sẻ, mong muốn sẽ nhận được ý kiến cùng trao đổi.

Quy trình soạn giáo án:

- Mục tiêu bài học (tiết dạy):

+ Tư tưởng, chính trị.

+ Kiến thức.

+ Kĩ năng.

- Chuẩn bị:

+ Chuẩn bị của thầy.

+ Chuẩn bị của trò.

- Phương pháp (phương pháp nào sủ dụng chính trong bài dạy).

- Tiến trình tiết dạy:

+ Ổn định lớp, kiểm tra sĩ số.

+ Kiểm tra bài cũ.

+ Giới thiệu bài mới.

+ Nội dung bài dạy.

+ Củng cố nội dung tiết dạy, dặn dò việc học bài, soạn bài.

- Rút kinh nghiệm sau tiết dạy:

Mục tiêu bài học

Mục tiêu bài học(tiết dạy) theo chúng tôi là phần quan trọng nhất, bởi vì nó quyết định đến các khâu khác trong một giáo án. Từ mục tiêu, người dạy sẽ quyết định phải làm gì để đạt được mục tiêu đó từ chuẩn bị, phương pháp, phương tiện đến tiến trình bài giảng. Lẽ ra mục tiêu bài dạy phải là ám ảnh với người soạn, thì giáo viên soạn thường không mấy quan tâm. Ở đây chúng tôi cho rằng có một số lí do sau:

Một là, giáo viên có thâm niên trong nghề đã quá thuộc với mục tiêu đề ra trong bài; năm nào, bao giờ chẳng thế; sách giáo khoa nếu có thay đổi theo chu kì sớm cũng phải bảy, tám năm, muộn cũng là mười mấy năm. Chúng tôi cho rằng hiểu như thế là chưa đầy đủ. Thiết nghĩ mục tiêu bài học luôn thay đổi biện chứng theo thời gian và đối tượng dạy học. Có thể cùng một bài dạy đối tượng khác nhau, mục tiêu bài học cũng sẽ khác bởi lẽ thầy giáo không chỉ cung cấp tri thức của bài mà còn phải giúp học sinh hình thành kĩ năng để chiếm lĩnh những tri thức tương tự. Đặc biệt với các tiết dạy thuộc bộ môn khoa học xã hội, cách hiểu về một bài dạy không đơn thuần là chân lí mà còn là sự biện chứng trong đánh giá và sự cao siêu trong tư tưởng khi tiếp cận vấn đề.

Hai là, một số giáo viên chưa ý thức vai trò của phần mục tiêu bài dạy dẫn đến còn xem nhẹ. Lỗi này nhiều giáo viên mắc phải đặc biệt là giáo viên mới vào nghề. Hậu quả của việc này là nghiêm trọng, nó giống như người đi đường không biết đích là vị trí nào, nói cách khác giống người cày ruộng không ý thức phần ruộng mình phải cày cứ đi khi nào mệt thì dừng lại. Như vậy giáo viên cứ giảng không thấy được mình phải thực hiện nội dung trọng tâm cần đạt là gì, cần phải cung cấp kiến thức, kĩ năng căn bản nào đối với học sinh. Điều này dẫn đến tiết dạy hoặc nặng nề bởi phần nào, việc làm nào cũng quan trọng; hoặc bỏ sót kiến thức bởi sự câu thúc của thời gian.

Ba là, do thói quen tự nhiên của con người là ngại tư duy, đặc biệt là trước các vấn đề trìu tượng. Điều này dẫn đến thường sử dụng sẵn những gì được cung cấp trong sách giáo khoa và sách giáo viên. Thường thì phần mục đich yêu cầu bài học được viết sẵn trong sách. Vì nhiều lí do, các học giả - người làm sách thường dồn nén tối đa lượng lớn thông tin trong một lượng nhỏ các đơn vị ngôn từ, làm cho văn bản thuộc phần mục tiêu bài học hàm súc nặng nề. Dẫn đến người đọc ngại tiếp cận hoặc tiếp cận qua loa đại khái mà không xem xét kĩ.

Bốn là, một bộ phận giáo viên cho rằng: sách giáo khoa, sách giáo viên là đúng tuyệt đối. Không hẳn thế. Sách viết mang tính chất phổ thông cho mọi đối tượng thuộc mọi vùng miền. Trong quá trình giảng dạy người giáo viên phải căn cứ vào đối tượng cụ thể để có điều chỉnh cho thích hợp. Điều này nhiều giáo viên chưa thấy hết dụng tâm của người làm sách mà đặt mục tiêu bài dạy ngang tầm với yêu cầu đặt ra. Hơn nữa chắng có điều gì là tuyệt đối cho mọi đối tượng. Hậu quả thì như trên đã đề cập.

Cũng còn nhiều lí do khác như: trình độ năng lực giáo viên (mâu thuẫn giữa khối lượng công việc được giao với khả năng hoàn thành), quỹ thời gian cá nhân của giáo viên dành cho công việc… Dù lí do nào chăng nữa việc coi nhẹ, không đặt đúng vị trí phần mục tiêu bài dạy ắt dẫn đến giáo viên sẽ khó khăn trong việc có được tiết dạy thành công. Vì vậy theo chúng tôi giáo viên cần quan tâm đúng mức tới phần mục tiêu bài dạy khi soạn giáo án.

Chia sẻ bởi
CSKH WLike 0916183300 - 0984236411
Thiết kế website bởi Wlike.vn

Bí quyết dạy tốt ở THCS


Bí quyết dạy tốt ở THCS


Một trong những bí quyết giúp bạn dạy tốt đó là: Tích cực + Sáng tạo


Là giáo viên ai mà không lên lớp. Ai mà không Kiểm tra bài cũ, không Dặn dò và làm bài tập ở nhà…Nhưng nên làm như thế nào để việc làm này có hiệu quả hơn!Chúng ta thử dạo quanh một vòng và chắc chắn sẽ bắt gặp được các hình ảnh sau ở trường THCS:
1.- Ổn định lớp: Giáo viên đã vào tiết nhưng bàn ghế thiếu ngay ngắn; các em chạy lộn xộn, ngồi không đúng chỗ của mình; vệ sinh lớp học yếu; đèn quạt được bật lên vô tội vạ; thậm chí thiếu cả khăn lau bảng…Mà giáo viên vẫn dạy không hề nhắc nhở!
2.- Có giáo viên kiểm tra bài cũ bằng cách gọi một em lên bảng làm một bài tập nào đó.Rồi giáo viên ngồi xem giáo án… Hoặc nhìn lơ đãng ra ngoài khung cửa…Thậm chí còn bỏ lớp ra ngoài…Còn dưới lớp học sinh tha hồ lén lút đùa vui với các trò chơi còn dư lại của mấy phút nghỉ giữa giờ… Khá hơn, có em làm bài hoặc theo dõi bạn đang bị kiểm tra ở bảng…
3.- Dặn dò và bài tập ở nhà: Khi bị cháy giáo án thì giáo viên cho qua bước này luôn. Hoặc vội vàng “phán” về nhà nhớ học bài và làm bài tập 1, 2, 3…sgk trong bầu không khí như ong vỡ tổ bởi trống hết giờ đã điểm rồi!
4.-Còn chuyện hết tiết dạy: Có khi giáo viên về trước tiếng trống điểm! Hoặc khá hơn thì xếp đặt giáo án vào cặp và “chờ”…. học sinh đứng dậy chào thì giáo viên đã ra khỏi cửa mặc cho cả lớp chen lấn lao ra cửa chính như ong vỡ tổ! Vốn các em hiếu động, việc xô đẩy, níu kéo có khi thành chuyện không hay!Trên đây là bốn vấn đề thường giáo viên thường xem nhẹ trong một tiết lên lớp mà đâu đó vẫn còn thì xin hãy sửa chữa lại. Cũng không mất nhiều thời gian và người giáo viên thay đổi cách làm tí xíu thì quá trình dạy học sẽ tích cực hơn, hiệu quả giáo dục to lớn hơn nhiều…
Nên chăng:

1.- Ổn định lớp: Giáo viên nhìn bao quát lớp chưa đầy 1 phút là sẽ nắm được bao điều: sắp xếp bàn ghế của lớp lại cho ngay ngắn, chỗ ngồi của các em, số học sinh vắng, quạt đèn, vệ sinh lớp và các dụng cụ phục vụ cho tiết dạy… Giáo viên ai cũng làm đồng loạt thì chỉ trong vòng 1 tuần sẽ dứt điểm những vấn đề “vướng mắt” mỗi khi vào lớp!
2.- Kiểm tra bài cũ: Cũng 1 em lên bảng làm bài tập. Nhưng giáo viên vừa theo dõi học sinh làm ở bảng đen vừa theo dõi các em ở dưới lớp. Việc giáo viên xuống dưới lớp kiểm tra vở tập giúp cho các em tự tin và gần gũi thân thiện vô cùng…Hoặc cũng một em lên bảng chữa bài tập, hoặc làm bài tập do giáo viên ra đề. Giáo viên nhắc các em cùng làm ở vở nháp. Giáo viên gọi một đôi em đem vở bài tập lên kiểm tra…Như thế nó “đánh động” đến học sinh cả lớp.
3.-Dặn dò-Hướng dẫn-Bài tập ở nhà: Đây là bước thứ 5 trong giáo án thường cũng bị xem nhẹ khi soạn bài. Phần Hưỡng dẫn Bài tập khó và Dặn dò chuẩn bị cho tiết tới bị lướt. Ai đó đã nói: Thiếu chuẩn bị trước thì việc gì cũng khó thành công! Phần đông học sinh chúng ta còn yếu trong việc tự học. Đòi hỏi tất cả giáo viên phải rèn luyện học sinh biết tự học thường xuyên, lâu dần thành thói quen tốt. Tùy theo đối tượng mà yêu cầu. Nhìn chung các em học nhiều môn nên việc soạn trước, đọc trước, tìm hiểu trước, nghiên cứu trước là rất cần thiết nhưng sợ “quá tải”. Gíao viên chỉ yêu cầu soạn trước, đọc trước, nghiên cứu trước một phần nhỏ của tiết học tiếp theo: phần đó được rút ra từ các kiến thức đã học, hoặc được rút ra từ thực tế cuộc sống,…Nếu tiếp đó là tiết ôn tập thì chuẩn bị các bảng yêu cầu học sinh soạn nội dung vào…Nếu tiếp đó là tiết thực hành thì học sinh phải chuẩn bị các vật dụng và đồ dùng liên quan…Với tinh thần “mưa dầm thấm đất”. Rồi các em thành thói quen tích cực trong việc tự học.Với bài tập ở nhà, cần yêu cầu sát đối tượng học sinh: Với học sinh yếu kém chỉ làm 1 bài (thậm chí trong hình học chỉ yêu cầu vẽ được hình, ghi giả thiết-kết luận, giải được 1 câu a thôi là đủ). Như thế các em thuộc đối tượng này sẽ cảm thấy tự tin để vươn lên...
4.-Trống điểm hết giờ! Giáo viên đứng chào cả lớp và cho cả lớp ra về. Thầy nán lại chỉ 1 phút thôi nhưng sẽ thấy nề nếp ở các em thi “tan lớp” thật đẹp làm sao! Biết đâu có em học sinh nào cần sẻ chia với giáo viên một vấn đề “giờ chót”…. Và tuyệt nhiên hiện tượng xô đẩy bàn ghế, chen lấn nhau qua khung cửa hẹp không còn nữa!Trong 4 vấn đề trên của một tiết lên lớp nếu được giáo viên để ý khắc phục thì chắc chắn nhà trường ngày một thân thiện và học sinh tích cực hơn!

Chia sẻ bởi
CSKH WLike 0916183300 - 0984236411
Thiết kế website bởi Wlike.vn

Kỹ năng sư phạm của giáo viên, đừng là quả thị trong mơ?


Kỹ năng sư phạm của giáo viên, đừng là quả thị trong mơ?
PGS. TS HUỲNH VĂN SƠN
 

Dạy học là hoạt động đặc thù cần nhiều kỹ năng. Chính vì vậy, giáo viên cần trang bị cho mình nhiều kỹ năng sư phạm để đáp ứng với thực tế xã hội.
Không có tổng chủ biên, sẽ lại ném tiền qua cửa sổ?Đổi mới giáo dục còn chạy vòng quanh đến bao giờ?Thực trạng giáo dục - Những lát cắt thực tế từ người trong cuộcTỷ lệ đỗ tốt nghiệp sẽ cao hơn năm trước?


Thế giới đang vươn mình với sự bùng nổ của các phương tiện thông tin đại chúng và các bạn học sinh, sinh viên rất dễ cập nhật thông tin, kiến thức ở mọi lĩnh vực. Trên cơ sở đó, nhu cầu tri thức của học sinh - sinh viên cũng ngày càng nâng cao.

Học sinh, sinh viên ngày nay không chỉ đến trường để học kiến thức chuyên môn mà họ còn mong muốn được làm việc và sống trong một môi trường thật sự chuyên nghiệp và năng động.

Kỹ năng sư phạm - cần không?

Câu hỏi trên trở thành câu hỏi thừa quá mức vì chân lý đã hiển nhiên! Một giáo viên giỏi phải có hệ thống kỹ năng sư phạm được chuyên môn hóa cao, sâu sắc và luôn thích ứng với nhiều hoàn cảnh khác nhau. Một giáo viên nếu chỉ có tri thức thì chỉ gọi là thợ dạy, và khi nào họ có kỹ năng sư phạm cũng như bộc lộ hệ thống kỹ năng ấy một phù hợp vào thực tiễn giáo dục mới gọi là “Thầy”.

Trên thế giới nhiều trường Ðại học đào tạo giáo viên thiên về kỹ năng hơn kiến thức chuyên ngành. Giáo viên trước tiên phải là người có khả năng tương tác tích cực với học sinh. Chính vì vậy, ngoài việc chú trọng rèn luyện phương pháp dạy học, giáo viên cần có khả năng truyền lửa, kỹ năng tổ chức hững hoạt động tương tác với học viên, kỹ năng sáng tạo trong phương pháp giảng dạy, kỹ năng quản lý đội, nhóm...





PGS. TS Huỳnh Văn Sơn, Phó Chủ tịch Hội Tâm lý học Việt Nam trong một tiết dạy học.


Dạy chỉ là một nửa của nghề giáo, một nửa còn lại tập trung ở nhiệm vụ giáo dục cho học sinh. Nhưng trong thời gian qua xảy ra nhiều sự vụ đau lòng như vì mâu thuẫn với giáo viên mà học sinh uống thuốc tự tử, học sinh đánh thầy, trò tát giáo viên chỉ vì nhắc nhở quy định nhà trường và mới đây là thầy tát học sinh rồi sau đó học sinh đánh thầy...

Dưới góc độ nhà giáo dục, giáo viên không thể đổ lỗi cho nhân cách học sinh. Vì sao học sinh chỉ phản ứng lại với giáo viên này mà không phải với giáo viên kia? Tại sao có nhiều học sinh rất nghịch phá nhưng lại rất vâng lời một hai thầy cô giáo trong trường?

Tại sao có giáo viên dạy học rất hay nhưng hầu như nhận được phản hồi rất tiêu cực từ đa phần học sinh trong lớp.

Sự khéo léo và tài tình ở người giáo viên không phải là dùng uy nghiêm của mình giáo dục các em mà phải dùng kỹ năng sư phạm để hướng dẫn và tương tác với học sinh một cách khéo léo.

Học sinh ngày nay có sự biến đổi lớn về mặt tâm lý do sự tác động từ môi trường xã hội, nhất là giai đoạn các em từ trẻ con chuyển tiếp sang người lớn. Giáo viên cần hiểu rõ hơn về tâm lý của học sinh và có khả năng giải quyết tốt các tình huống sư phạm.

Thực tế chương trình đào tạo giáo viên hiện nay cho thấy học phần để đào tạo kỹ năng sư phạm cho giáo viên tương lai còn hạn chế.

Những môn nghiệp vụ chiếm tỷ lệ rất ít so với môn kiến thức chuyên ngành. Ðôi khi, có những môn học là môn nghiệp vụ sư phạm nhưng sinh viên chủ yếu được truyền đạt lý thuyết mà ít được thực hành. Chính vì vậy, sinh viên lúng túng, bối rối khi trải nghiệm vào thực tế.



Đủ chứ không chỉ cần



Nhiều giáo viên còn lúng túng khi mở đầu bài giảng, thậm chí bỏ hẳn khâu mở đầu bài giảng và chính điều này làm giảm hiệu quả rất nhiều trong việc tiếp thu tri thức của học sinh dưới góc độ Tâm lý học, quy luật ghi nhớ và nhớ.

Giáo viên bối rối khi không biết làm thế nào để tập trung học sinh, điều khiển và làm chủ lớp học, có khi lớp học mạnh thầy thầy giảng, mạnh trò trò nói chuyện.

Giáo viên khó khăn trong việc tiếp cận với học sinh hiếu động, nghịch phá và chưa có những kỹ năng thể hiện sự đồng cảm, chia sẻ, động viên hay kỹ năng kết nối để “lôi kéo” học sinh cá biệt về phía mình, gần gũi mình hơn...

Quá trình rèn luyện kỹ năng cho giáo viên hiện nay còn xem nhẹ. Sinh viên quá ít cơ hội trải nghiệm thực tế vào các tình huống giáo dục. Sinh viên sư phạm chủ yếu học trên lớp với các giảng viên. Thời gian thực tập sư phạm còn quá ít, sự tương tác với giáo viên hướng dẫn thực tập còn nhiều hạn chế, nhất là về kinh nghiệm thực tiễn.

Thực tế cho thấy kỹ năng sư phạm cần có sự trải nghiệm đích thực, rèn luyện lâu dài, thường xuyên... Ðiều có giá trị bền vững là ở chính bản thân sinh viên sư phạm phải ý thức đýợc vai trò của kỹ năng sư phạm với nghề nghiệp để chính các bạn có ý thức rèn luyện.

Bởi vai trò của giáo dục nhà trường bao giờ cũng vấp phải những giới hạn nhất định, chỉ ở bản thân người học có nhận thức đúng, có sự chủ động thì hiệu quả về mặt giáo dục mới được nâng cao và bền vững. Có không ít câu hỏi được đặt ra: Sinh viên sư phạm hiện nay còn quá chủ quan về kỹ năng sư phạm?

Nguyên nhân nào khiến họ chủ quan? Phải chăng phần đánh giá thực tập sư phạm hoặc kỹ năng sư phạm không mang tính quyết định đến kết quả học tập... Ðiều này khiến chúng ta phải trăn trở bởi kỹ năng sư phạm là phần chủ chốt nhất trong năng lực người giáo viên.

Cứ như thế, không hiếm thế hệ giáo viên này đến thế hệ giáo viên kế tiếp vẫn chưa đáp ứng đýợc những mong mỏi và kỳ vọng của xã hội đặt ra. Những sự việc đau lòng trong ứng xử sư phạm vẫn tiếp tục nảy sinh...

Cần xem xét kỹ năng sư phạm như một phương tiện để người giáo viên hành nghề, không có phương tiện sẽ không thể nào hành nghề. Kỹ năng sư phạm không chỉ đặt trong yêu cầu về chuyên môn nghề nghiệp mà cần thiết trong phẩm chất, nhân cách người giáo viên.

Quá trình đào tạo nghiệp vụ cho giáo viên tương lai cần chú trọng thêm về mặt thời gian, sự cụ thể chứ không lồng ghép chung chung, học đi đôi với hành, tương tác với thực tiễn và được học từ những tình huống hay ví dụ trong thực tiễn.

Điều này đòi hỏi người giảng viên giảng dạy nghiệp vụ sư phạm cần phải đầu tư cho mình thêm kinh nghiệm thực tiễn và có sự liên kết với giáo viên trung học để hiệu quả giảng dạy kỹ năng sư phạm đạt kết quả tốt nhất.

Nếu có quả thị trong mơ rụng vào bị bà thì chuyện cổ tích sẽ luôn là thú vị. Cái hiền, cái lành vẫn cần nhưng không thể làm nên chân dung của một người giáo viên biết dạy, biết dỗ, biết giáo, biết dưỡng, biết giáo dục…

Điều căn bản là cần dốc lòng trang bị kỹ năng sư phạm ngay từ trong môi trường học đường của “máy cái” cho đến khi ra trường và làm nghề… Quả thị sẽ không tự rơi bị bà mà chính thái độ chăm chỉ, nghiêm túc, có định hướng và có chiến lược mới tạo nên quả thị thơm nức lòng người học theo phương châm: dạy học là trao cho niềm tin, tình cảm, tri thức và kỹ năng…

Chia sẻ bởi
CSKH WLike 0916183300 - 0984236411
Thiết kế website bởi Wlike.vn

Các chuyên gia nói về "thần đồng" 15 tháng tuổi" biết đọc chữ


Các chuyên gia nói về "thần đồng" 15 tháng tuổi" biết đọc chữ
 Tuệ Nhi có thể thuộc nhóm người có trí tuệ thông minh ngôn ngữ (theo phân loại của Howard Gardner) phát triển hơn những trẻ cùng trang lứa...
Các trường ĐH, CĐ xác định các môn xét tuyển trước ngày 15/10Phụ huynh mang con lên UBND tỉnh để...xin cho con đi họcHàng trăm thủ khoa đại học chọn dùng mạng Viettel

Tiếp tục câu chuyện về “thần đồng” 15 tháng tuổi đi chưa vững đã biết đọc chữ, sau kỳ trước với phương pháp giáo dục con của mẹ “thần đồng”, các chuyên gia giáo dục và chuyên gia tâm lý nói gì về hiện tượng này? Mời độc giả cùng theo dõi tiếp trong kỳ này.

Gia đình là trường học đầu tiên, cha mẹ là người thầy đầu tiên

Trao đổi với PV Báo Giáo dục Việt Nam về trường hợp của bé Tuệ Nhi, PGS.TS Mai Văn Hưng – Giám đốc Trung tâm Nhân học và Phát triển trí tuệ, Đại học Quốc Gia Hà Nội cho biết:

“Gia đình là trường học đầu tiên của trẻ và cha mẹ chính là người thầy đầu tiên của trẻ. Với trường hợp của bé Tuệ Nhi, thứ nhất, bé đã được học rất sớm từ khi mới 2 tháng tuổi trong giai đoạn này não con người đang phát triển rất nhanh vì thế việc thu nhận thông tin khá dễ dàng. Thứ 2, Tuệ Nhi có thể thuộc nhóm người có trị tuệ thông minh ngôn ngữ (theo phân loại của Howard Gardner) phát triển hơn những trẻ cùng trang lứa.

Trường hợp bé Tuệ Nhi 15 tháng tuổi biết đọc chữ cần phải được nghiên cứu kĩ hơn trước khi có kết luận là "thần đồng" . Ảnh Hồng Nhung



Kết hợp cả 2 yếu tố này Tuệ Nhi trở nên đứa trẻ có khả năng nhận biết và ghi nhớ các kí tự ngôn ngữ được học đồng thời có khả năng logic hóa các kí tự ngôn ngữ trong nhận thức nên bé có khả năng “tự nhiên bé đọc được” các chữ chưa được dạy. Vì thế trường hợp Tuệ Nhi cần phải được nghiên cứu kĩ hơn trước khi có kết luận là “thần đồng”, tuy nhiên chỉ riêng việc bé có những khả năng đặc biệt kể trên cũng là một vấn đề rất đáng để nghiên cứu về trí tuệ ngôn ngữ và logic”.

Nói thêm về phương pháp thai giáo

mà chị Thảo đã chia sẻ trong kỳ trước, PGS.TS Mai Văn Hưng cho biết: “Đây là Phương án 0 tuổi của giáo sư người Trung Quốc Phùng Đức Toàn, một phương pháp giáo dục trẻ từ sớm, trong đó 1 trong các nguyên tắc giáo dục cơ bản là giáo dục sớm ở gia đình.

Tuy nhiên những nghiên cứu của Phùng Đức Toàn về “thai giáo” mới chỉ là những mô tả và khái quát các trường hợp cụ thể chứ chưa bàn đến cơ chế vận hành của “bộ máy học” một cách chuyên sâu nên còn đang gây nhiều tranh cãi và chưa được chứng minh về mặt khoa học, do đó nguyên nhân Tuệ Nhi “biết đọc” không hẳn là do “thai giáo” của mẹ bé giải thích.

Trong thực tế, ngoài những đứa trẻ “thần đồng” thực sự cũng có nhiều trẻ có khả năng tự nhận thức, tự họ rất cao cùng với trí tuệ ngôn ngữ phát triển sớm nên cũng có những khả năng đặc biệt như Tuệ Nhi mà không cần đến phương pháp “thai giáo” nào của cha mẹ, điều này đã được tổ chức Mensa của thế giới ghi nhận”.

Không tạo áp lực cho trẻ "đặc biệt"

Với những trẻ có khả năng đặc biệt như Tuệ Nhi, liệu có cần định hướng giáo dục hoặc có những trường học chuyên biệt cho trẻ này được học tập và phát triển khả năng sau này, PGS.TS Mai Văn Hưng cho rằng:

“Việc để cho trẻ phát triển bình thường là rất quan trọng bởi con người sống theo đời sống xã hội, trong đó mối quan hệ tương tác giữa các cá thể với nhau là rất cần thiết, nếu cá nhân có những biểu hiện vượt trội trong một lĩnh vực nào đó mà bị tách khỏi cộng đồng sẽ có thể phát triển theo thiên hướng cá nhân mà giảm đi khả năng thích ứng với cộng đồng.

Mục tiêu thiên niên kỉ của UNESCO đã khẳng định “Học để biết, học để làm việc, học để chung sống và học để trở thành chính mình”, học để chung sống là không thể thiếu đối với bất cứ con người nào sống trong đời sống xã hội.


Bởi thế với trẻ được giáo dục sớm hoặc có khả năng đặc biệt biết đọc, biết viết sớm, chúng ta không nên có định hướng giáo dục hoặc mở trường học riêng biệt để trẻ học tập và phát triển hết khả năng cho đến khi trẻ tương đối hoàn thiện về cấu trúc và chức năng của não bộ (ít nhất là hết lứa tuổi mầm non). Nên cho trẻ “đặc biệt” học chung với trẻ bình thường giúp các bé hòa nhập và đặc biệt không tạo áp lực trở thành “sao” quá sớm có thể gây thui chột tài năng bẩm sinh”.

Chuyên gia tâm lý PGS.TS Huỳnh Văn Sơn, Phó Chủ tịch Hội Tâm lý học Việt Nam cũng chung quan điểm khi cho rằng: “Với những trẻ có biểu hiện hiện vượt hơn các bạn cùng tuổi thì vẫn là một đứa trẻ còn trong độ tuổi nhà trẻ, mẫu giáo. Bất kỳ một sự tác động quá mức hay bất thường về mong đợi của người lớn lên trẻ sẽ là sự kỳ vọng quá đáng và nguy cơ trẻ bị áp lực, căng thẳng là hoàn toàn có thể xảy ra. Trẻ có thể cảm nhận cuộc sống với những suy nghĩ tiêu cực…"

PGS.TS Huỳnh Văn Sơn cho biết thêm, trẻ vẫn cần được sống trong một môi trường an toàn, sống trong vòng tay nhân ái của che mẹ, vẫn cần được chia sẻ, an ủi, vỗ về… Cha mẹ cần đồng hành cùng trẻ có khả năng vượt trội để con phát triển đúng hướng, giữ mãi sự ngây thơ, phù hợp với lứa tuổi, không nên cuồng vọng về con.

Cha mẹ cần bình tĩnh để con phát triển toàn diện thay vì tập trung khai thác quá mức khả năng của con, chú ý đặc điểm lứa tuổi của con, nên cho trẻ trải nghiệm, khám phá thế giới xung quanh thay vì cứ hướng trẻ theo thế mạnh của trẻ. Điều này sẽ làm cho trẻ không huyễn hoặc về mình, không bị áp lực hay không quá chủ quan nhưng cũng không quá ỷ lại bản thân mình.

Khi cha mẹ phát hiện con phát triển sớm hay có dấu hiệu “khôn sớm” cần quan tâm nhiều đến sự bình thường về tính cách, ứng xử của trẻ, cũng cần nhanh chóng liên lạc với cơ quan có chuyên môn hay một chuyên gia trong lĩnh vực giáo dục, nghiên cứu khả năng để có những đánh giá sơ bộ.


Chia sẻ bởi
CSKH WLike 0916183300 - 0984236411
Thiết kế website bởi Wlike.vn

Thứ Năm, 25 tháng 9, 2014

5 bước lên lớp của Giáo viên THCS


5 bước lên lớp của Giáo viên THCS

Bạn gặp khó khăn khi lên lớp, lúng túng khi không nắm rõ việc lên lớp như thế nào, gồm các bước nào? Bài viết dưới đây sẽ giúp bạn tháo gỡ khó khăn đó.

Năm bước lên lớp” của một tiết dạy đều có ý nghĩa và tác dụng sư phạm rất hệ trọng.(ST)



1. Ổn định tổ chức (1-2 phút) là một bước chuẩn bị tâm thế tập trung để bước vào tiết học. Có nhiều nội dung:

Theo dõi sự chuyên cần. Em nào có mặt, em nào vắng mặt để có hướng giúp đỡ và khích lệ - chỗ ngồi của học sinh đã ổn chưa. Bàn ghế thiếu đủ, có xộc xệch không, để chỉnh đốn kịp thời - nếu tiết trước có dặn dò gì, thì tiết này xem các em đã thực hiện đến đâu - có thông tin gì đặc biệt làm các em xôn xao, giáo viên cần thông báo để các em ổn định tập trung tư tưởng bước vào học.

* Bước này được xây dựng thành nếp ngay thời gian đầu. Thời gian sau có thể lướt qua khoảng 1 phút. Lớp trưởng giúp giáo viên ghi sĩ số, vắng mặt, có mặt ở góc bảng trái để giáo viên đỡ mất thời giờ kiểm tra…

2. Bước kiểm tra bài cũ (2-3 phút)

* Chỉ có kiểm tra thường xuyên mới thúc đẩy học sinh làm bài, học bài nghiêm túc.

Nội dung kiểm tra:

Xem việc ghi chép làm bài, chuẩn bị bài (văn, toán, sinh vật…) của học sinh - tiết học trước có yêu cầu chuẩn bị, hoặc làm bài để nộp thì nhất thiết phải kiểm tra, đánh giá, khen chê kịp thời - có thể làm kiểm tra miệng hay viết một tiết hay 15 phút; nội dung cả bài hay một phần trọng tâm nào đó.

* Tùy theo chủ đích và yêu cầu của giáo viên mà chọn nội dung và dành thời gian thích hợp. Quan tâm kiểm tra các em học yếu và thiếu chăm chỉ để có hướng giúp đỡ cụ thể.

* Lâu nay, một số giáo viên không coi trọng việc kiểm tra học bài, làm bài ở nhà, thực hiện những gì giáo viên “dặn dò”, đã ảnh hưởng không nhỏ đến tính nghiêm túc của học sinh. Các em sẽ “nhờn” việc dặn dò, nhắc nhở của giáo viên.

3. Bước giảng bài mới (35-40 phút) - bước trọng tâm

Để giới thiệu bài mới, giáo viên có nhiều cách gây sự hứng thú, tập trung nghe giảng. Không nhất thiết bài nào cũng làm. Song sự dẫn dắt hấp dẫn của giáo viên sẽ giúp các em tập trung tốt hơn và chỉ cần ngắn gọn.

Một giáo viên đã vào bài Quê hương như sau: “Mỗi người một quan niệm, một xúc cảm về quê hương khác nhau. Với nhà thơ Đỗ Trung Quân đã nói lên quan niệm và tình cảm của mình qua bài Quê hương. Hôm nay ta học bài: Quê hương…

Về địa lý, giáo viên vào bài. Hôm nay ta học bài Châu Phi. Cũng được thôi. Một giáo viên khác: Đố các em, châu lục nào có hình dạng giống củ khoai, có nhiều tài nguyên, khoáng sản quý? - Châu Phi.

* Giáo viên chuẩn bị kỹ để xác định phần nào là trọng tâm, là khó hiểu, khó nhớ để giảng giải kỹ càng; phần nào dễ, hướng dẫn các em tự học, không nhất thiết phần nào cũng giảng giải như nhau.

* Vì thiếu chuẩn bị kỹ nội dung lẫn phương pháp nên giáo viên không chủ động, dễ “cháy giáo án”. Cuối cùng, chả đọng lại bao nhiêu kiến thức cho học sinh.

4. Bước củng cố (2-3 phút)

Vừa giảng xong, kiến thức còn “nóng hổi”, kiểm tra lại bài giảng ta sẽ thấy rõ kết quả cả thầy lẫn trò; từ đó giáo viên sẽ kịp thời bổ sung và củng cố thêm. Chỉ cần một câu hỏi về nội dung trọng tâm hoặc để cho học sinh nêu những điểm nào còn lơ mơ, chưa hiểu…

5. Bước dặn dò (2-3 phút)

Đây là bước tiếp tục củng cố bài mới chuẩn bị cho bài sau. Không nên làm lấy lệ mà phải có yêu cầu, nội dung cụ thể rõ ràng. Cần thiết phải hướng dẫn tỉ mỉ để các em thực hiện được.

Dặn dò phải ghi vào giáo án để lần dạy sau giáo viên kiểm tra. Tránh tình trạng “đánh trống bỏ dùi” như một số giáo viên đã làm. Dặn các em làm một bài, sưu tầm tranh ảnh, mà giáo viên không thu, không kiểm tra đánh giá thì coi như việc làm “công cốc dã tràng”.

Hiệu trưởng cứ kiểm tra xem, sẽ thấy các bước này còn nhiều tồn tại.

* 5 bước lên lớp là một quy trình khép kín của một tiết dạy, đều có một ý nghĩa khoa học và tác dụng nhất định. Nhưng không nhất thiết tiết học nào cũng đủ 5 bước như nhau mà tùy từng bài cụ thể, tùy tình hình thực tế của lớp mà thực hiện sao cho phù hợp. Ngay cả thời gian dành cho từng bước cũng vậy.


Chia sẻ bởi
CSKH WLike 0916183300 - 0984236411
Thiết kế website bởi Wlike.vn

Việc 'khủng khiếp" của các thầy cô giáo


Việc 'khủng khiếp" của các thầy cô giáo

“Giáo án của giáo viên phổ thông thật khủng khiếp". Thầy Huỳnh Văn Thế (Trường THPT Măng Thít, Vĩnh Long) thốt lên như vậy tại một hội thảo bàn chuyện tự học, tự nghiên cứu của giáo viên do Viện Nghiên cứu Sư phạm TP.HCM tổ chức cuối tuần qua.





Thầy Thế phát biểu tại hội thảo "Nâng cao năng lực tự học, tự nghiên cứu cho giáo viên phổ thông đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục".Ảnh: Hoài Nam (Dân Trí)


Thầy Thế cho hay, giáo viên phổ thông có đủ loại giáo án: giáo án theo lớp (lớp khá, lớp yếu phải khác nhau); giáo án tự chọn (chủ đề bám sát, chủ đề nâng cao), giáo án trái buổi, giáo án ngoài giờ, hướng nghiệp.

Các thầy cô còn phải đối diện 2 tuần kiểm tra một lần, nếu không kịp sẽ bị nhắc nhở, kiểm điểm. Chỉ việc"copy giáo án từ trên mạng, chỉnh sửa rồi in ra còn không kịp".

Còn thời gian rảnh, cũng có vô số công việc khác "chiếm" mất thời gian tự học: dự giờ đến thao giảng; viết sáng kiến kinh nghiệm; hồ sơ, sổ sách đủ loại như sổ hội họp, chủ nhiệm, phiếu liên lạc, sổ điểm lớn, sổ điểm cá nhân, vào điểm...

Ngoài việc dạy, còn phải đeo hàng loạt công việc như viết sáng kiến kinh nghiệm, công tác chủ nhiệm, theo sát tình hình học trò... cùng đủ các loại họp hành (họp tổ, hội đồng, phụ huynh, công đoàn...) kéo dài suốt năm.

Không chỉ có giáo án, các giáo viên hiện nay đang chịu không ít áp lực từ công việc ngoài chuyên môn.Khi ý kiến của thầy Thế được đăng tải, đã có nhiều giáo viên đồng cảm cùng anh.

Gửi tới phản hồi của VietNamNet, anh Sỹ Tiến, một giáo viên "vùng 135" bày tỏ: Chúng tôi vẫn tự học rất nhiều. Nhưng có lẽ nên bớt các loại hồ sơ, sổ sách, vì có nhiều loại chỉ có tác dụng để cấp trên kiểm tra thôi.

Anh Đức Minh thì liệt kê hàng loạt công việc "chóng mặt":

Giáo viên phải soạn giáo án, lên lịch báo giảng, vào sổ điểm để kịp cập nhật, viết sổ tích lũy chuyên môn, ghi sổ hội họp, ghi bài học kinh nghiệm sau mỗi tiết dạy, làm sáng kiến kinh nghiệm, làm đồ dùng dạy học để dự thi, ghi nhận xét học sinh vào sổ liên lạc, báo cáo đóng nạp của học sinh hàng tháng, làm kế hoạch bồi dưỡng chuyên môn, viết báo cáo bồi dưỡng chuyên đề, lên lớp đúng quy định số tiết dạy theo chuẩn nghề nghiệp,.. v.v..

Chị Nguyễn Thị Hường, một giáo viên trẻ không tham gia dạy thêm nhưng cũng không có thời gian để nghiên cứu bài vở, dù rất muốn và rất tâm huyết.

Chị Hường nói, giáo dục còn nặng về hành chính, hình thức nên giáo viên phải họp, hồ sơ sổ sách, giáo án, chủ nhiệm, đến nhà thăm học sinh. Nếu học sinh bỏ học phải đi vận động các em trở lại trường. Được ngày chủ nhật phải tham gia hoạt động, nếu không thì bị đánh giá "không hòa đồng".

Những người thầy có thâm niên thì chia sẻ ngắn gọn.

"Với cách dạy này thì cần đến cải tiến sáng kiến gì, có ai áp dụng đâu, có ai trân trọng đâu, hết thi đua rồi thì bỏ (tôi có đủ danh hiệu chiến sỹ thi đua cấp tỉnh,bằng khen thủ tướng. Tất cả chỉ là hình thức)". - Thầy giáo Nguyễn Văn Chi, có thâm niên 37 năm trong nghề nói.

"Giáo án lập ra thì nộp cho ai, thử hỏi người nhận đó có đọc không (chứ chưa nói đến phải kiểm tra)? Hãy bớt những thủ tục vớ vẩn này đi để giáo viên tập trung giảng dạy học trò", một thầy giáo tên Phương đề nghị.


Chia sẻ bởi
CSKH WLike 0916183300 - 0984236411
Thiết kế website bởi Wlike.vn

Công việc của giáo viên trước-trong-sau khi lên lớp


Công việc của giáo viên trước-trong-sau khi lên lớp


Dạy học là một công việc vừa có tính khoa học vừa có tính nghệ thuật nó đòi hỏi sự sáng tạo của giáo viên trong quá trình giảng dạy. Để làm tốt công việc này thì giáo viên phải thực hiện tốt 3 giai đoạn chính đó là giai đoạn chuẩn bị trước khi lên lớp, giai đoạn lên lớp, giai đoạn sau khi lên lớp. Các giai đoạn này được thiết kế và thực hiện như thế nào các bạn sinh viên đặc biệt là các bạn giáo sinh sắp đi thực tập có thể tìm thấy những điều hữu ích trong bài viết dưới đây.



1. Việc chuẩn bị lên lớp:

Chúng ta đều biết rằng dạy học là công việc vừa có tính khoa học lại vừa có tính nghệ thuật, nó luôn đòi hỏi sự sáng tạo của người giáo viên trong quá trình giảng dạy.Tuy nhiên, không thể có một sự sáng tạo nào mà lại thiếu đi sự chuẩn bị chu đáo. Vì vậy, việc chuẩn bị lên lớp không những là điều cần thiết nà còn là điều bắt buộc không chỉ đối với người giáo viên mới bước vào nghề mà cả đối với giáo viên lâu năm, có nhiều kinh nghiệm.

Việc chuẩn bị lên lớp của người giáo viên bao gồm việc chuẩn bị dài hạn cho cả năm học hoặc từng học kỳ và việc chuẩn bị lên lớp cho từng tiết học cụ thể.

* Việc chuẩn bị dài hạn cho cả năm học hoặc từng học kỳ bao gồm những công việc sau:

- Tìm hiểu học sinh lớp mình giảng dạy về kết quả học tập, giáo dục, thái độ và phong trào học tập, tu dưỡng của lớp, đặc điểm tâm lý chung của lớp và của những học sinh cá biệt, phong cách sư phạm của người giáo viên đã và đang giảng dạy ở lớp đó. Trên cơ sở đó mà đề ra những yêu cầu hợp lý đối với họ.

- Nghiên cứu kỹ chương trình, nội dung tài liệu học tập, trên cơ sở đó để thu thập, lựa chọn tài liệu cho từng tiết học, phương pháp, phương tiện dạy học và những hình thức dạy học thích hợp.

- Tìm hiểu những phương tiện dạy học có ở trường để tiến hành tạo nên những phương tiện mới; những tài liệu, sách báo trong tủ sách nhà trường để có kế hoạch cùng với học sinh xây dựng nên tủ sách của lớp. Qua đó mà có những dự định đổi mới phương pháp dạy học.

- Với những tài liệu hướng dẫn của các cơ quan quản lý giáo dục và với sự nghiên cứu, tìm hiểu nêu trên mà mỗi giáo viên, tập thể nhóm giáo viên xây dựng kế hoạch dạy học theo từng chương mục cả năm học hay từng học kỳ của mình.

* Việc chuẩn bị trực tiếp lên lớp bao gồm việc phân tích nội dung sách giáo khoa, soạn giáo án và chuẩn bị những điều kiện cho việc lên lớp:

Về phân tích nội dung các bài trong sách giáo khoa, thường phải phân tích về mạt khái niệm, về mặt logic, về mặt tâm lý, về mặt giáo dục và cuối cùng là về mặt lý luận dạy học.

+ Phân tích về mặt khái niệm bao gồm: Việc xác định cấu trúc những tri thức, nghĩa là việc xem xét những khái niệm cơ bản nào với những dấu hiệu đặc trựng của chúng và những khái niệm thứ yếu; mức độ phức tạp của những khái niệm đó; định rõ những tri thức phải nắm; những tri thức nào có tính cất thông báo.

- Xác định khối tri thức mới và mối liện hệ với tri thức đã học.

- Trên cơ sở mối liên hệ giữa những khái niệm mới và khái niệm đã học mà tổ chức cho học sinh tự lực hình thành hoặc giúp đỡ họ hình thành khái niệm bằng con đường tái hiện hay sáng tạo.

- Xác định những khái niệm nào trong số đó cần đào sâu, mở rộng, hoặc những khái niệm sẽ phải nghiên cứu sâu hơn trong các tiết học sau.

+ Phân tích về mặt logic: Là việc xác định trình tự của việc trình bày những khái niệm đó. Muốn vậy, phải xác định mặt mâu thuẫn của thông tin như sự kiện không tương ứng với quy luật, khái niệm đã biết.

+ Phân tích về mặt tâm lý: Bao gồm việc xác định tính vấn đề của tài liệu học tập, có thể tạo nên tình huống có vấn đề và chúng có thể tác động đến mặt cảm xúc của học sinh.

+ Phân tích về mặt giáo dục bao gồm:

-Xác định những khái niệm, quan điểm nào có tác dụng hình thành thế giới quan khoa học, quan điểm chính trị, tư tưởng, quan điểm đạo đức, quan điểm thẩm mỹ cho học sinh.

- Xác định những tài liệu học tập nào có liên quan đến thực tiễn xung quanh học sinh, với điều kiện thực tế xây dựng kinh tế, xã hội đất nước.

+ Phân tích về mặt lý luận dạy học: Trên cơ sở kết quả những phân tích trên mà xác định mục đích, yêu cầu, trọng tâm của tiết học, phương pháp, phương tiện và hình thức tổ chức dạy học, tổ chức phối hợp hoạt động của giáo viên và học sinh.

- Chính xác hoá khối lượng tài liệu bắt buộc phải nắm, bổ sung tài liệu cần thiết, xác định trình tự những vấn đề cần trình bày.

- Xác định hệ thống các bài luyện tập vận dụng tri thức tại lớp và ở nhà; cách hướng dẫn học sinh giải quyết.

- Chính xác hoá những biện pháp liên hệ nội nội dung tài liệu học tập với cuộc sống, với thực tiễn xây dựng đất nước, với tri thức của các bộ môn khác, những cơ sở hình thành thế giới quan khoa học.

- Chính xác hoá những nội dung, biện pháp kiểm tra tri thức của học sinh và cách chỉ đạo cá biệt.

+ Về việc soạn giáo án: Giáo viên cần dựa trên kế hoạch dạy học theo chương mục, nội dung sách giáo khoa, trình độ tri thức của học sinh và những điều kiện tiến hành bài dạy cụ thể mà xây dựng kế hoạch tiến hành từng kế hoạch cụ thể.

Khi soạn giáo án cần xác định trạng thái tri thức ban đầu cần phải có để lĩnh hội tri thức của tiết học và từ đó mà xác định trình độ tri thức của học sinh lớp mình và đề ra các biện pháp khắc phục tình trạng hổng kiến thức của học sinh (nếu có).

- Cần phải cố gắng nhìn trước tiến trình suy nghĩ, trạng thái tâm lý của học sinh sẽ diễn ra để dự định những phương án thích hợp và xử lý kịp thời nhằm điều khiển hoạt động nhận thức và những trạng thái xúc cảm của họ.

- Cần suy nghĩ biện pháp để phát huy cao độ tính tích cực, độc lập, sáng tạo của học sinh trong tiết học nhằm hình thành cho họ năng lực, phẩm chất tự lực để họ có thể học tập liên tục, học tập suốt đời.

- Cấn suy nghĩ những biện pháp chỉ đạo cá biệt.

- Cần suy nghĩ cẩn thận những phương tiện dạy học cần thiết và cách sử dụng chúng.

(Có những mẫu giáo án cụ thể, giáo viên có thể soạn theo những mẫu đó).

2.Lên lớp.

Lên lớp là hoạt động cụ thể của giáo viên nhằm thực hiện toàn bộ giáo án đã vạch ra. Lên lớp là lĩnh vực đời sống tinh thần quan trọng nhất. Đây là lúc người giáo viên và người học tiếp xúc với nhau. Chính trong thời gian đó người giáo viên mới thể hiện đầy đủ tính khoa học và tính nghệ thuật trong công tác dạy học và giáo dục của mình, thể hiện tầm hiểu biết, hứng thú, niềm tin và nói chung là thế giới tinh thần của mình.

Việc mở đầu tiết học có ảnh hưởng rất lớn đến tiến trình sau này của tiết học. Chính nó quyết định nhịp điệu của tiết học, trạng thái tình cảm của thầy và trò.

Tiết học hiện đại thường bắt đầu bằng việc tạo nên tình huống có vấn đề, gây hứng thú và thu hút sự chú ý của học sinh vào những vấn đề, vào đề tài của tiết học. Tiếp đó, tổ chức công tác tự lực của cá nhân hoặc hợp tác với nhau theo từng nhóm để giải quyết vấn đề. Tiết học cũng có thể mở đầu bằng công tác độc lập chung cho cả nhóm giải quyết một vấn đề dựa trên tri thức đã học và việc giải quyết vấn đề đó có liên quan đến tri thức sắp học.

Tiến trình của tiết học không chỉ phụ thuộc vàp việc mở đầu tiết học mà còn phụ thuộc cả vào việc thông báo đề bài, mục đích, yêu cầu của tiết học, tạo cho họ có nhu cầu, hứng thú, chờ đợi tiếp nhận những tri thức mới mà tiết học sẽ đem đến cho họ.

Trong tiến trình tiết học, giáo viên phải chú ý duy trì được không khí tích cực, hào hứng trong học sinh đối với bài học, luôn đặt họ ở trong những tình huống phải tích cực hoá những tri thức, những kinh nghiệm đã có để giải quyết vấn đề và thông qua đó mà lĩnh hội tri thức mới…

Tư thế, tác phong của người giáo viên phải đúng mực, ăn mặc gọn gàng, giản dị, ngôn ngữ rõ ràng, trong sáng, truyền cảm, nhịp điệu nói phù hợp với từng hoàn cảnh cụ thể, biết cách thay đổi giọng nói.

Kết thúc tiết học phải làm sao đạt được mục đích, yêu cầu của tiết học.

3. Sau khi lên lớp:

Sau tiết học, người giáo viên phải phân tích sư phạm một cách tổng hợp, cụ thể cần làm sáng tỏ:

- Chất lượng của việc tích cực hoá tri thức, kỹ năng, kỹ xảo.

- Chất lượng hình thành những khái niệm và kỹ năng, kỹ xảo.

- Chất lượng khái quát hoá và hệ thống hoá tri thức, kỹ năng, kỹ xảo.

- Chất lượng ra bài về nhà và hướng dẫn học sinh tự học…

Từ sự phân tích tiết học đó, những kinh nghiệm thành công và thất bại rút ra cần ghi lại phía dưới giáo án để những tiết học lần sau được tiến hành với những kết quả cao hơn.

Chia sẻ bởi
CSKH WLike 0916183300 - 0984236411
Thiết kế website bởi Wlike.vn

Hãy "cởi trói" cho giáo viên


Hãy "cởi trói" cho giáo viên
Nhiều bạn đọc là giáo viên đã gửi phản hồi về Tuổi Trẻ, bày tỏ bức xúc khi phải làm quá nhiều công việc liên quan đến sổ sách và chỉ rõ: Với bao nhiêu công việc không tên ấy, giáo viên khó mà phát huy tính sáng tạo trong từng bài giảng, nói gì đến nâng cao chất lượng đào tạo.


Chúng tôi tiếp tục trích đăng một số ý kiến.

* Thời buổi công nghệ thông tin, người ta đã làm ra các phần mềm để hỗ trợ các công việc này, vậy mà người quản lý không thống nhất từ trên xuống, chỉ tội cho giáo viên. Chúng tôi phải làm mấy công việc thủ công nhàm chán đó giống cách đây 20 năm trong khi ngành giáo dục luôn hô hào “đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin”, hình thức quá!

* Mẹ tôi nói: “Là giáo viên chứ phải tổng thống đâu mà không có được chút thời gian để họp mặt gia đình? Đến nỗi ngày giỗ của ông bà nếu không rơi vào chủ nhật thì cũng không dám nghỉ. Mẹ bệnh cũng hứa hẹn để chủ nhật con chở mẹ đi khám. Mà khổ nỗi chủ nhật thì bệnh viện không khám bệnh... Riết rồi con cái bất hiếu quá!”. Nói đến đây mà cảm thấy đau lòng vô cùng! Các bạn biết vì sao không? Cũng vì nỗi khổ của các loại sổ kể trên đó. Chỉ mong các cấp trên hiểu mà giảm bớt các công việc nhiêu khê đó để những người giáo viên chúng tôi có thời gian báo hiếu cha mẹ là mừng rồi.

* Vợ tôi là giáo viên tiểu học, không hiểu sao mấy năm nay cứ loay hoay với đống sổ sách của trường, của khối, của lớp. Hết viết kế hoạch năm của khối, của lớp, của cá nhân đến kế hoạch thực hiện của các kế hoạch đó, rồi báo cáo đầu kỳ, giữa kỳ, cuối kỳ và cuối năm học... Còn giáo án thì thay đổi xoành xoạch, lúc phải viết tựa giáo án theo kiểu này, sau lại viết theo kiểu khác... Thôi trăm sự nhờ vào Bộ GD-ĐT, sở GD-ĐT, phòng GD-ĐT coi lại cung cách quản lý làm ăn thế nào cho phù hợp để học trò và thầy cô giáo được thảnh thơi tập trung cho giảng dạy và học tập.

* Nhiều hồ sơ sổ sách để làm gì? Để minh chứng này minh chứng nọ nhưng cuối cùng cái ta cần ở đây là gì? Là chất lượng dạy và học. Đề nghị các sở GD-ĐT nên nghiên cứu “giảm tải” những loại hồ sơ không cần thiết cho chúng tôi nhờ. Chẳng hạn (ở nơi tôi công tác): sổ tự bồi dưỡng (hầu hết giáo viên làm một cách đối phó) vì có tự bồi dưỡng hay không thì đã thể hiện qua chất lượng dạy và học; sổ hội họp riêng, rồi sổ sinh hoạt chuyên môn (họp tổ bộ môn) riêng... Chỉ cần một cuốn thôi, và khi ghi chép thì không cần bắt buộc phải ghi đầy đủ nội dung cuộc họp mà chỉ cần ghi những điều cần làm, cần rút kinh nghiệm là đủ...
Chia sẻ bởi
CSKH WLike 0916183300 - 0984236411
Thiết kế website bởi Wlike.vn

Thứ Tư, 24 tháng 9, 2014

Sách lớp 5 dạy về phụ nữ mang thai: Đi ngược với chủ trương đổi mới


Sách lớp 5 dạy về phụ nữ mang thai: Đi ngược với chủ trương đổi mới
Theo PGS.TS Trịnh Hòa Bình, những kiến thức được nêu trong bài hoàn toàn ngược với chủ trương đổi mới giáo dục Việt Nam.


Về vấn đề này, PGS. TS Trịnh Hòa Bình đặt giả thiết nếu ông có con đang học lớp 5, khi nghe con mình học thuộc lòng bài học có nội dung Phụ nữ mang thai cần làm gì? ông sẽ phản ứng như thế nào? Ông Trịnh Hòa Bình đã thẳng thắn bày tỏ qua điểm không đồng ý đưa nội dung phụ nữ có thai vào sách giáo khoa lớp 5.

Theo ông Trịnh Hòa Bình phân tích, những kiến thức được nêu trong bài hoàn toàn ngược với chủ trương đổi mới giáo dục Việt Nam. Bởi, chủ trương hiện nay của chúng ta là, lược bỏ những kiến thức không cần thiết trong hệ thống giáo dục trong nhà trường để các môn học của các em đi vào thực tế hơn.



Do đó, ông cho rằng, những kiến thức về phụ nữ mang thai không phù hợp với các em học sinh lớp 5. Những kiến thức đó không cần và không nên trang bị cho các em đang ở độ tuổi “ăn chưa no, lo chưa tới”. Ông nhận định rằng đây là một điển hình cho việc đưa nhầm kiến thức không cần thiết vào chương trình giáo dục hiện nay.

Việc cung cấp kiến thức về giới tính cho trẻ theo ông Trịnh Hòa Bình là cần thiết. Nhưng, cung cấp ở mức độ nào thì lại hoàn toàn phụ thuộc vào độ tuổi, tâm sinh lý của của trẻ ở giai đoạn đó và việc đó là không có hại. Bởi, khi chúng ta biết giới hạn kiến thức về giới tính để trang bị cho trẻ thì nó hoàn toàn có lợi. Ví như học sinh lớp 5 tức là đã 10 tuổi, ở nhóm tuổi này nói chung đã biết nhận thức cho nên giáo dục giới tính cho trẻ không chỉ bó buộc trong phạm vi nhà trường mà mỗi người cha người mẹ cũng có trách nhiệm trong việc trang bị kiến thức và giáo dục giới tính cho con trẻ.

Tuy nhiên, ông Trịnh Hòa Bình không quên khuyến cáo tới các bậc phụ huynh là những kiến thức đó phải đảm bảo vừa đủ, đúng với độ tuổi của các em học sinh. Chẳng hạn như kiến thức về giới, về chức năng của giới nam, chức năng của giới nữ... chứ không phải là những kỹ năng, bài giảng về chuyện mang thai và chửa đẻ cũng như phải kiêng khem gì khi mang thai.

Những kiến thức về Phụ nữ mang thai nên làm gì? Ông Trịnh Hòa Bình cho rằng ở lứa tuổi học sinh THCS là hợp lý nhất. Vì, ở lứa tuổi này các em có quyền được biết những kiến thức về quá trình mang thai, quá trình hình thành nên con người và không ngoại trừ việc miêu tả khi mang thai người phụ nữ nên và không nên làm gì. Việc cung cấp kiến thức cho các em ở lứa tuổi này có vai trò quyết định trong việc điều chỉnh hành vi của trẻ ở tương lai.

Chia sẻ bởi
CSKH WLike 0916183300 - 0984236411
Thiết kế website bởi Wlike.vn